Bản án 64/2017/HNGĐ-ST ngày 27/09/2017 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 64/2017/HNGĐ-ST NGÀY 27/09/2017 VỀ LY HÔN

Ngày 27 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 189/2017/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2017, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 73/2017/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Trúc L, sinh năm 1979; địa chỉ: 264 ấp Đ, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; có mặt tại phiên tòa.

- Bi đơn: Anh Phạm Ngọc H (O), sinh năm 1980; đăng ký hộ khẩu thường trú: 196 ấp B, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Tạm trú: 264 ấp Đ, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/6/2017 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Võ Thị Trúc L trình bày: Về hôn nhân: Chị L và anh Phạm Ngọc H tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1998, đến ngày 14/10/2002 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, giấy chứng nhận kết hôn số 243 (Theo Trích lục kết hôn số 262/TLKH-BS ngày 16/5/2017 của Ủy ban nhân dân xã M). Sau kết hôn, chị L và anh H chung sống tại ấp Đ, xã M. Do chị L và anh H không cùng quan điểm trong đời sống chung của vợ chồng; anh H thường xuyên uống rượu, bạo lực gia đình với chị L; anh H có tình cảm với người phụ nữ khác ở bên ngoài, nên chị L và anh H thường xuyên có xung đột, mâu thuẫn xảy ra, dẫn đến chị L và anh H không còn chung sống với nhau từ tháng 02/2016 đến nay. Nay tình nghĩa vợ chồng không còn, nên chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị L được ly hôn anh H. Về con chung: Chị L và anh H có 02 con chung tên Phạm Văn P, sinh ngày 25/8/1999 và Phạm Thị Yến N, sinh ngày 10/11/2003. Cháu N đang do chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi cháu N. Riêng cháu P đã trưởng thành, muốn sống với chị L hay anh H là tùy cháu P và người đó có nghĩa vụ nuôi dưỡng. Về tài sản và nợ: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Phạm Ngọc H, từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng anh H vẫn cố tình vắng mặt không đến Tòa án mà không có lý do, không cung cấp chứng cứ cho Tòa án và không có văn bản trình bày ý kiến phản bác gì về yêu cầu khởi kiện của chị L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Việc chị Võ Thị Trúc L xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Phạm Ngọc H là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa chị L và anh H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do anh H có địa chỉ cư trú tại số 264 ấp Đ, xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, nên Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp thụ lý và giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Việc chị Võ Thị Trúc L và anh Phạm Ngọc H tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1998, đến ngày 14/10/2002 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, theo giấy chứng nhận kết hôn số 243, đã tuân thủ theo quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình, nên được Tòa án công nhận là vợ chồng hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Sau khi kết hôn, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy Nên trong thời gian chung sống, do chị L và anh H không cùng quan điểm trong đời sống chung của vợ chồng, anh H thường xuyên uống rượu, bạo lực gia đình với chị L, anh H có tình cảm với người phụ nữ khác ở bên ngoài, không quan tâm chăm lo hạnh phúc và phát triển kinh tế gia đình, đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình. Việc làm của anh H đã làm cho chị L không còn tin tưởng vào anh H, dẫn đến chị L và anh H thường xuyên có xung đột xảy ra. Từ đó cho thấy hôn nhân giữa chị L và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được và thực tế là chị L đã không còn chung sống với anh H từ tháng 02/2016 đến nay, do đó chị L yêu cầu được ly hôn anh Phạm Ngọc H. Xét thấy yêu cầu xin ly hôn của chị L phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên được chấp nhận và quyết định cho ly hôn giữa chị Võ Thị Trúc L và anh Phạm Ngọc H.

[3] Về nuôi con chung: Chị L và anh H có 02 con chung tên Phạm Văn P, sinh ngày 25/8/1999 và Phạm Thị Yến N, sinh ngày 10/11/2003. Cháu N đang do chị L trực tiếp nuôi dưỡng.

Xét thấy cháu P đã trưởng thành, muốn sống với chị L hay anh H là tùy cháu P và người đó có nghĩa vụ nuôi dưỡng.

Đối với cháu N, đang do chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị L yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi cháu N, đồng thời cháu N cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống với chị L. Xét thấy yêu cầu của chị L và nguyện vọng của cháu N phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, nên được Tòa án chấp nhận và quyết định giao cháu N cho chị L được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Sau khi ly hôn, chị L cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh H trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về chia tài sản: Chị L không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về nợ chung: Chị L không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Đối với anh Phạm Ngọc H, từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng anh H không gửi bản trình bày ý kiến đến Tòa án cho biết ý kiến của anh H qua yêu cầu khởi kiện của chị L, không cung cấp chứng cứ cho Tòa án và cũng không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Do đó, anh H phải gánh chịu mọi hậu quả theo quy định tại Điều 96 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[7] Về án phí: Chị Võ Thị Trúc L phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 19, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 96, khoản 4 Điều 147 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân:

Cho ly hôn giữa chị Võ Thị Trúc L và anh Phạm Ngọc H.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung tên Phạm Thị Yến N, sinh ngày 10/11/2003 cho chị Võ Thị Trúc L được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Việc cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết.

2.3. Sau khi ly hôn, chị L cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh H trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về chia tài sản: Không giải quyết.

4. Về nợ chung: Không giải quyết.

5. Về án phí:

Chị Võ Thị Trúc L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 16481 ngày 27/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L (chị L đã nộp đủ án phí).

6. Chị L có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh H vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án này hoặc bản án này được tống đạt theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

157
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 64/2017/HNGĐ-ST ngày 27/09/2017 về ly hôn

Số hiệu:64/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lai Vung - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 27/09/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về