Bản án 64/2017/HNGĐ-ST ngày 08/08/2017 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 64/2017/HNGĐ-ST NGÀY 08/08/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 08 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 129/2017/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 6 năm 2017, về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 112/2017/QĐXXST-HNGĐ, ngày 17 tháng 7 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Th, sinh năm 1980 (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Trần Văn D, sinh năm 1976 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp KV, xã T, huyện P, tỉnh D.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 06/6/2017 và tại phiên tòa, bà Đỗ Thị Th trình bày: Vào năm 2002 bà và ông Trần Văn D chung sống như vợ chồng, đến nay không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và ông D còn có hành vi đánh bà, giữa bà và ông D đã xảy ra mâu thuẫn từ năm 2004, gia đình có khuyên nhưng ông D vẫn không sửa đổi. Xét mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn nên bà yêu cầu ly hôn với ông D.

Về con chung: Có 02 người tên là Trần Gia Bảo, sinh ngày 23/5/2004 đang sống với bà, Trần Kim Ngân, sinh ngày 12/6/2007 đang sống chung với ông D. Nay bà yêu cầu được nuôi Trần Gia Bảo và giao Trần Kim Ngân cho ông D nuôi dưỡng, không ai cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản hòa giải ngày 17/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, ông Trần Văn D cho rằng: Về thời gian chung sống, không có đăng ký kết hôn, xảy ra mâu thuẫn đúng như bà Đỗ Thị Th đã khai, nay ông không đồng ý ly hôn do ông còn thương bà Th. Về con chung, đúng như bà Th đã trình bày, nay ông yêu cầu được nuôi cả hai người con và không yêu cầu bà Th phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Bà Đỗ Thị Th khởi kiện ông Trần Văn D về tranh chấp ly hôn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Đồng thời, ông D được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông D được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Bà Đỗ Thị Th và ông Trần Văn D đều thừa nhận cuộc sống chung xảy ra mâu thuẫn. Do cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên bà Đỗ Thị Th yêu cầu ly hôn nhưng ông Trần Văn D không đồng ý. Tuy nhiên, bà Đỗ Thị Th và ông Trần Văn D chung sống như vợ chồng vào năm 2002 đến nay không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên hôn nhân giữa bà Đỗ Thị Th và ông Trần Văn D không được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Từ đó, không công nhận bà Đỗ Thị Th và ông Trần Văn D là vợ chồng theo quy định tại các điều 9, 14 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Có 02 người tên là Trần Gia Bảo, sinh ngày 23/5/2004 và Trần Kim Ngân, sinh ngày 12/6/2007. Ông Trần Văn D yêu cầu được nuôi cả hai người con, bà Đỗ Thị Th yêu cầu được nuôi Trần Gia Bảo và giao Trần Kim Ngân cho ông D nuôi dưỡng. Đối với Trần Gia Bảo có nguyện vọng được sống chung với bà Th, Trần Kim Ngân có nguyện vọng sống chung với ông D. Hiện Giao Bảo đang do bà Th nuôi dưỡng, Trần Kim Ngân do ông D nuôi dưỡng. Từ đó, giao Trần Gia Bảo, sinh ngày 23/5/2004 cho bà Th trực tiếp nuôi dưỡng và giao Trần Kim Ngân, sinh ngày 12/6/2007 cho ông  D trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại các điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình và cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Th và ông D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung và nợ chung là không có nên không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà Đỗ Thị Th chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 9, 14, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Đỗ Thị Th và ông Trần Văn D là vợ chồng.

2.Về con chung: Giao Trần Gia Bảo, sinh ngày 23/5/2004 cho bà Đỗ Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng, giao Trần Kim Ngân, sinh ngày 12/6/2007 cho ông Trần Văn D trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Bà Đỗ Thị Th và ông Trần Văn D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà Đỗ Thị Th chịu 300.000 đồng. Bà Đỗ Thị Th nộp tạm ứng 300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006572, ngày 08/6/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Nay chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được miên yết

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

168
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 64/2017/HNGĐ-ST ngày 08/08/2017 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:64/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Tân - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:08/08/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về