Bản án 63/2020/HS-ST ngày 03/06/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 63/2020/HS-ST NGÀY 03/06/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 03 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2020/TLST- HS ngày 24 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2020/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 5 năm 2020, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lại Ngọc T, sinh ngày 22 tháng 02 năm 1995 tại Uông Bí, Quảng Ninh. Nơi cư trú: tổ 4, khu B, phường P, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: nhân viên Công ty tư vấn xây dựng thương mại Đạt An; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; con ông Lại Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/01/2020, đến ngày 03/02/2020 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại tại nơi cư trú; có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn G, sinh ngày 06 tháng 11 năm 1992 tại Uông Bí, Quảng Ninh. Nơi cư trú: tổ 3, khu B, phường P, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Dương Thị L; có vợ và có 01 con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đầu thú ngày 01/02/2020, áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 03/02/2020, hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú; có mặt.

3. Họ và tên: Bùi Ất H, sinh ngày 25 tháng 10 năm 1995 tại Uông Bí, Quảng Ninh. Nơi cư trú: tổ 2, khu T, phường P, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: sinh viên; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; con ông Bùi Văn K và bà Trương Thị H; đã có vợ, chưa có con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/01/2020 đến ngày 03/02/2020 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú; có mặt.

4. Họ và tên: Hoàng Đông N, sinh ngày 24 tháng 01 năm 1996 tại Uông Bí, Quảng Ninh. Nơi ĐKNTT: tổ 6, khu L, phường P, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; con ông Hoàng Việt C và bà Đinh Thị T; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/01/2020, đến ngày 03/02/2020 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú; có mặt.

5. Họ và tên: Đồng Xuân K, sinh ngày 03 tháng 7 năm 1977 tại Chí Linh, Hải Dương. Nơi ĐNKTT: khu 3, phường B, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương; chỗ ở hiện nay: Khu B, phường P, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; con ông Đồng Xuân N và bà Vũ Thị H; có vợ và có 03 con (con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/01/2020, đến ngày 03/02/2020 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú; có mặt.

6. Họ và tên: Bùi Văn T, sinh ngày 27 tháng 5 năm 1992 tại Uông Bí, Quảng Ninh. Nơi cư trú: Tổ 3, khu L, phường P, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; con ông Bùi Văn S và bà Giang Thị X; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/01/2020, đến ngày 03/02/2020 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm:

1968. Nơi cư trú: tổ 3, khu B, phường P, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

- Những người làm chứng: Anh Vũ Bá H, anh Nguyễn Văn Q, chị Hoàng Thị T, ông Nguyễn Trường T, ông Dương Đại H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 26/01/2020, Nguyễn Văn G đến nhà chú ruột là ông Nguyễn Văn C thuộc tổ 3, khu B, phường P, thành phố Uông Bí chơi chúc tết thì gặp ba người không quen biết đang ngồi trong phòng khách còn ông C đang ngủ trong phòng. Thấy G đến, một người trong nhóm rủ G chơi đánh bạc bằng hình thức “xóc đĩa”, G đồng ý. Sau đó một người trong nhóm lấy ra 01 bộ bát đĩa sứ màu trắng và 04 quân vị hình tròn (đường kính 02cm) được cắt ra từ quân bài tú lơ khơ rồi cùng ngồi xuống chiếu cói ở phòng khách nhà ông C. Ban đầu G nhận là người cầm cái, tất cả thống nhất đặt cửa thấp nhất là 10.000 đồng. Luật chơi: Cho 04 quân vị vào trong lòng bát úp trên đĩa, dùng tay lắc mạnh lên xuống rồi người chơi đặt tiền vào cửa chẵn nằm phía trong người cầm cái, cửa lẻ nằm phía ngoài người cầm cái (chẵn là khi có 02 trong 04 quân bài vị hoặc cả 04 quân bài đồng màu; lẻ là khi có 03 trong số 04 quân bài vị đồng màu). Khi kết quả cho chẵn thì người đặt chẵn được gấp đôi số tiền đã đặt, người đặt lẻ bị thua và ngược lại.

Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, G có việc đi về nên T đã vào cầm cái thay. Lúc này T và mọi người thống nhất nâng mức đặt thấp nhất là 50.000 đồng. Từ khi T cầm cái, có nhiều người cả nam và nữ đến xem và tham gia chơi, trong đó có các bị cáo Bùi Ất H, Hoàng Đông N, Đồng Xuân K, Bùi Văn T và Lại Ngọc T. Sau khi giải quyết công việc xong, đến khoảng 13 giờ 15 phút G tiếp tục quay lại nhà ông C đánh bạc tiếp.

Khoảng 13 giờ 50 phút cùng ngày ông C ngủ dậy, thấy nhiều người đang đánh bạc ở nhà mình nên không đồng ý và yêu cầu giải tán. Ngay sau đó, thì Tổ công tác Đội Cảnh sát hình sự Công an thành phố Uông Bí đến kiểm tra, bắt quả tang, mọi người hoảng sợ bỏ chạy. Lực lượng Công an bắt giữ tại chỗ được T, K, N và thu giữ tại chiếu bạc tổng số tiền 9.900.000 đồng; 08 quân vị hình tròn được cắt từ quân bài tú lơ khơ; 01 chiếc kéo kim loại cũ, 01 chiếu cói cũ, kích thước (190x150)cm và các mảnh vỡ của bát, đĩa (do người bỏ chạy đạp vỡ). Thu giữ trong người Lại Ngọc T: 230.000 đồng, 01 điện thoại Xiaomi màu đỏ cùng sim liên lạc; Đồng Xuân K: 600.000 đồng; Hoàng Đông N: 760.000 đồng, 01 điện thoại Iphone 6 màu xám cùng sim số.

Các ngày 26/01/2020 và 01/02/2020, Bùi Ất H, Bùi Văn T và Nguyễn Văn G đến Công an thành phố Uông Bí đầu thú.

Ngoài số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 9.900.000 đồng, quá trình điều tra Cơ quan điều tra còn thu giữ được của bị cáo Đồng Xuân K 600.000 đồng, đây là số tiền bị cáo dùng để đánh bạc nhưng sau đó hòa nên đã cất vào túi. Tổng cộng số tiền các bị cáo bỏ ra để đánh bạc là 10.500.000 đồng Tại bản Cáo trạng số 53/CT – VKSUB ngày 23/4/2020, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí đã truy tố các bị cáo Lại Ngọc T, Nguyễn Văn G, Bùi Ất H, Hoàng Đông N, Đồng Xuân K, Bùi Văn T về tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo đều khai nhận ngày Tết nên nghĩ tham gia chơi cho vui, ông C không thu bất cứ khoản tiền phí hoặc được hưởng lợi gì từ các bị cáo. Ngoài các bị cáo còn có nhiều người đến xem và cũng tham gia đánh bạc gồm cả nam và nữ, nhưng các bị cáo không nhớ mặt và không biết tên tuổi cụ thể những người này.

Về số tiền dùng đánh bạc từng bị cáo khai nhận: G bỏ ra 1.000.000 đồng; T có 1.230.000 đồng, bỏ ra 1.000.000 đồng để đánh bạc; H bỏ ra 2.600.000 đồng; K bỏ ra 600.000 đồng; T bỏ ra 300.000 đồng và N có 910.000 đồng bỏ ra 150.000 đồng để đánh bạc. Trong đó T thắng nhưng khi bị bắt bị cáo ném hết tiền xuống chiếu bạc; G, N, T và H đều bị thua hết; còn K đang hòa nên 600.000 đồng bỏ ra đánh bạc K cất trong người, sau đó bị thu giữ. Các bị cáo đều thừa nhận có hành vi đánh bạc như nội dung vụ án đã nêu và bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh truy tố về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C tại phiên tòa khai khi ông ngủ dậy thấy các bị cáo đánh bạc tại phòng khách, ông đã nhắc nhở, không cho chơi và gia đình ông không được hưởng lợi gì từ việc này. Đối với bát đĩa, chiếu các bị cáo lấy làm dụng cụ để chơi bạc, sau đó làm hư hỏng, do có giá trị nhỏ nên ông không yêu cầu bồi thường.

Những người làm chứng anh Vũ Bá H, anh Nguyễn Văn Q, chị Hoàng Thị T, ông Nguyễn Trường T, ông Dương Đại H có lời khai thể hiện trong hồ sơ từ bút lục 243 đến 252 và từ bút lục 260 đến bút lục 273.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt chính: Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (đối với các bị cáo H, T, G áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự); Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên các bị cáo phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lại Ngọc T từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn G, Hoàng Đông N, Đồng Xuân K, Bùi Văn T, Bùi Ất H, mỗi bị cáo từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao cho Uỷ ban nhân dân cấp xã, phường nơi các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 10.500.000đồng và trả lại bị cáo T 230.0000đồng, bị cáo N 760.000đồng.

Đối với 01 chiếc kéo cũ, 08 quân vị hình tròn, 06 mảnh vỡ của đĩa sứ, 04 mảnh vỡ của bát sứ, 01 chiếc chiếu cói cũ không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với chiếc điện thoại của bị cáo T và bị cáo N, không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho các bị cáo nên không đề cập giải quyết.

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận với quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định tố tụng: Những chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Uông Bí, của Điều tra viên, của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các chứng cứ, tài liệu và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và hình phạt:

2.1 Về tội danh:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai giữa các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ của vụ án, bản ảnh vật chứng cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 50 phút, ngày 26/01/2020, tại nhà ông Nguyễn Văn C thuộc tổ 3, khu B, phường P, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; các bị cáo Lại Ngọc T, Nguyễn Văn G, Bùi Ất H, Hoàng Đông N, Đồng Xuân K và Bùi Văn T đang có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “xóc đĩa” với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 10.500.000đồng thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Uông Bí bắt quả tang.

Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh truy tố các bị cáo về tội danh theo Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

Đối với ông Nguyễn Văn C là chủ nhà, nơi các bị cáo đến chơi Tết và đánh bạc tại đây, ông C không đồng ý và không được hưởng lợi từ các bị cáo nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với các đối tượng khác cùng tham gia đánh bạc, đã bỏ trốn. Quá trình điều tra chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ; đề nghị Cơ quan điều tra Công an thành phố Uông tiếp tục làm rõ, xử lý sau.

2.2 Về hình phạt:

Về hình phạt chính: Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng các bị cáo bị truy tố và xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, có mức cao nhất của khung hình phạt là 03 năm tù.

Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn. Tuy nhiên, hành vi này là một trong những nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội, gây mất trật tự trị an địa phương và trực tiếp ảnh hưởng đến đến kinh tế, cuộc sống của nhiều gia đình. Vì vậy, cần phải có hình phạt nhất định đối với từng bị cáo để lấy đó làm bài học giáo dục riêng cũng như phòng ngừa tội phạm chung. Đánh giá vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự phân công vai trò, trách nhiệm khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều tham gia với vai trò thực hành. Trong đó: bị cáo T là người cầm cái, bỏ ra số tiền chơi lớn thứ hai trong vụ án, từ khi T cầm cái mức đặt cửa từ thấp nhất là 10.000 đồng được nâng nên là 50.000 đồng và có nhiều người vào tham gia chơi, trong đó có các bị cáo trong vụ án này nên bị cáo giữ vai trò đầu. Tiếp sau là bị cáo G, mặc dù tham gia chơi bạc với thời gian ngắn nhưng trước đó có lúc bị cáo cũng cầm cái và số tiền bỏ ra chơi bằng số tiền của bị cáo T nên bị cáo giữ vai trò thứ hai. Đối với các bị cáo H, N, T, K cùng là người tham gia chơi, nhưng bị cáo H bỏ ra số tiền chơi lớn nhất trong vụ án nên giữ vai trò thứ ba. Sau cùng là các bị cáo N, T, K tham gia chơi với thời gian chơi và số tiền ít nên cùng có vai trò thấp nhất trong vụ án như nhau.

Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội này ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung bằng tiền được quy định tại khoản 3 điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập thấp nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[3] Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng đối với các bị cáo Bùi Ất H, Nguyễn Văn G, Bùi Văn T sau khi phạm tội đầu thú và ngoài ra bị cáo T có bố là ông Bùi Văn S từng tham gia cách mạng được nhà nước tặng thưởng huân chương, nên xem xét cho các bị cáo này được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về chấp hành hình phạt: Qua phân tích về mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tính chất đồng phạm, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đánh giá nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng các đều có nhân thân tốt, được chính quyền địa phương, nơi cư trú xác nhận. Đối với bị cáo Bùi Ất H, năm 2013 bị xử phạt hành chính về hành vi gây thương tích, bị cáo đã chấp hành xong quyết định xử phạt này. Ngoài lần vi phạm hành chính trên, cho đến nay bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật, lần phạm tội này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hiện đang là sinh viên của trường Cao đẳng than khoáng sản Việt Nam.

Xét thấy các bị cáo có khả năng tự cải tạo, không cần bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, cho các bị cáo hưởng án treo, tạo điều kiện cho các bị cáo tiếp tục được đi làm để ổn định kinh tế, cuộc sống gia đình; đối với bị cáo đang là sinh viên có cơ hội được tiếp tục học. Việc này không làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội và phù hợp với hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo”, cũng như thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật nước ta.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Văn C không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 11.490.000 đồng, trong đó: số tiền 10.500.000đồng (gồm 9.900.000 đồng thu trên chiếu bạc và 600.000 đồng thu của bị cáo K) là số tiền các bị cáo cùng góp để đánh bạc, liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước và số tiền 230.0000đồng thu giữ của bị cáo T, số tiền 760.000đồng thu giữ của bị cáo N là tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại hai bị cáo.

Đối với 01 chiếc kéo cũ, 08 quân vị hình tròn, 06 mảnh vỡ của đĩa sứ, 04 mảnh vỡ của bát sứ, 01 chiếc chiếu cói cũ không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với chiếc điện thoại của bị cáo T và N, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại cho các bị cáo nên không đề cập giải quyết.

[7] Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên; 

QUYẾT ĐỊNH

1.Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 (áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 đối với các bị cáo Nguyễn Văn G, Bùi Ất H, Bùi Văn T); Điều 17, Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự và điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự

Tuyên bố: Các bị cáo Lại Ngọc T, Nguyễn Văn G, Bùi Ất H, Bùi Văn T, Đồng Xuân K, Hoàng Đông N phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Lại Ngọc T 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn G 08 (tám) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Ất H 07 (bảy) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo Đồng Xuân K 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Đông N 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Lại Ngọc T, Nguyễn Văn G, Bùi Ất H, Bùi Văn T, Đồng Xuân K, Hoàng Đông N cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh là nơi các bị cáo cư trú, để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Hủy biện pháp ngăn chặn theo các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 35, 36, 37, 38, 39, 40 ngày 25/5/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh đối với các bị cáo trong vụ án.

3. Về xử lý vật chứng: điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tịch thu, sung nộp ngân sách nhà nước số tiền 10.500.000đồng.

Trả lại bị cáo Lại Ngọc T 230.0000đồng, bị cáo Hoàng Đông N 760.000đồng Tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc kéo cũ, 08 quân vị hình tròn, 06 mảnh vỡ của đĩa sứ, 04 mảnh vỡ của bát sứ, 01 chiếc chiếu cói cũ.

(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng được mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng, bảng kê tiền tang vật ngày 27 tháng 4 năm 2020 giữa Công an thành phố Uông Bí và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23, danh mục án phí Toà án của Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


38
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 63/2020/HS-ST ngày 03/06/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:63/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Uông Bí - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:03/06/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về