Bản án 63/2020/HNGĐ-ST ngày 11/05/2020 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 63/2020/HNGĐ-ST NGÀY 11/05/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 11 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 157/2020/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2020/QĐXX-ST ngày 20/4/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Mỹ C , sinh năm 1994.

Đa chỉ: Ấp B, xã ĐH, huyện Đ, tỉnh Long An (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Lê Hoàng B, sinh năm 1983.

Đa chỉ: Ấp B, xã ĐH, huyện Đ, tỉnh Long An (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời trình bày tại phiên tòa của nguyên đơn bà Nguyễn Mỹ C thể hiện:

Tôi và ông Lê Hoàng B chung sống với nhau vào năm 2017, đến năm 2018 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐH, huyện Đ, tỉnh Long An. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian, đến đầu năm 2019 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân mâu thuẫn là do cuộc sống vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gổ, ông B ăn chơi, không chịu khó làm ăn; khi cãi nhau ông B hay đe dọa tôi và gia đình. Chúng tôi đã ly thân từ năm 2019 và từ khi ly thân đến nay hai vợ chồng không gặp nhau để hàn gắn tình cảm, chỉ điện thoại, nhưng tôi thấy ông B làm phiền tôi nhiều quá nên tôi không nghe máy. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên tôi yêu cầu ly hôn với ông Lê Hoàng B.

Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung tên Lê Nguyễn Tất Đ, sinh ngày 28/8/2018. Khi ly hôn, tôi yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Lê Hoàng B trình bày trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án:

Tôi thống nhất với lời trình bày của bà C về thời gian chung sống; điều kiện kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn; ngoài ra, nguyên nhâu mâu thuẫn còn do tôi có đánh bà C 02 lần. Nhưng bà C xin ly hôn tôi không đồng ý vì tôi còn thương vợ, thương con, con tôi còn nhỏ nên tôi muốn con cùng sống chung với cha mẹ. Biện pháp hàn gắn là tôi sẽ gặp vợ thường xuyên để khuyên vợ về sống cùng với tôi.

Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung tên Lê Nguyễn Tất Đ, sinh ngày 28/8/2018, hiện tại cháu đang sống cùng ông bà ngoại ở tỉnh Bình Định. Trong trường hợp Tòa án giải quyết cho tôi và bà C ly hôn, tôi đồng ý để bà C được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, tôi đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung 1.5000.000 đồng/tháng.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Mỹ C nộp đơn khởi kiện ly hôn với ông Lê Hoàng B có địa chỉ cư trú tại xã ĐH, huyện Đ, tỉnh Long An nên căn cứ vào Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp về ly hôn, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

[2] Về thủ tục tố tụng: Ông B có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông B theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân: Bà C và ông B tự nguyện tiến đến hôn nhân, chung sống với nhau từ năm 2017, có đăng ký kết hôn ngày 26/3/2018 tại Uỷ ban nhân dân xã ĐH, huyện Đ, tỉnh Long An nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Bà C yêu cầu ly hôn vì cho rằng ông B ăn chơi, không chịu khó làm ăn; khi cãi nhau ông B hay đe dọa bà và gia đình, vợ chồng đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Bị đơn ông B thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn như lời bà C trình bày. Tuy nhiên, ông B không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ thương con, ông muốn tiếp tục cuộc hôn nhân này Xét thấy, bà C và ông B đều thừa nhận vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, hai bên không còn sống chung, không còn quan tâm lo lắng cho nhau. Mẫu thuẫn giữa hai bên không hòa giải được. Tại phiên tòa, bà C vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn, Tòa án đã cho thời gian để vợ chồng hàn gắn nhưng đến nay ông B cũng không đưa ra được biện pháp nào để hàn gắn quan hệ hôn nhân.

Do đó, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Nguyễn Mỹ C và ông Lê Hoàng B là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân của các bên không đạt được, nên căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Lê Hoàng B.

Về con chung: Bà C và ông B có 01 con chung tên Lê Nguyễn Tất Đ, sinh ngày 28/8/2018. Khi ly hôn, bà C yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, ông B có ý kiến: Trường hợp Tòa án giải quyết cho ông bà ly hôn, ông đồng ý để bà C tiếp tục nuôi dưỡng con chung, ông cấp dưỡng nuôi con chung 1.500.000 đồng/tháng, sự thỏa thuận này là phù hợp với quy định pháp luật nên cần ghi nhận để chấp nhận yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà C.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Bà Nguyễn Mỹ C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Ông Lê Hoàng B phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điều 18, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Mỹ C.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Mỹ C được ly hôn với ông Lê Hoàng B.

Về con chung: Bà Nguyễn Mỹ C được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Lê Nguyễn Tất Đ, sinh ngày 28/8/2018.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Lê Hoàng B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Lê Nguyễn Tất Đ mỗi tháng 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn đồng). Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 01/5/2020 đến khi cháu Lê Nguyễn Tất Đ đủ 18 tuổi.

Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Khi cần thiết các bên có thể thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

2. Về án phí:

Bà Nguyễn Mỹ C phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà C đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004692 ngày 14/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa. Bà C đã nộp xong.

Ông Lê Hoàng B phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Mỹ C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Lê Hoàng B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.


39
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 63/2020/HNGĐ-ST ngày 11/05/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:63/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 11/05/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về