Bản án 63/2018/HNGĐ-ST ngày 26/10/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 63/2018/HNGĐ-ST NGÀY 26/10/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 26 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 184/2018/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2018 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 662/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đào Thị Thanh M; nơi ĐKHKTT: Số 1/54/191 đường L, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Số 2C lô 16 ngõ 246A đường Đ, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Bùi Mạnh T; nơi cư trú: Số 1/54/191 đường L, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ dân sự ly hôn ngày 04 tháng 5 năm 2018, trong bản tự khai, quá trình giải quyết tại Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đào Thị Thanh M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2011, chị Đào Thị Thanh M và anh Bùi Mạnh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đã làm tủ tục đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường G, quận N, thành phố Hải Phòng ngày 13/8/2012. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống bình thường đến năm 2013 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do mâu thuẫn trong đời sống kinh tế, anh T không có công việc và thu nhập ổn định, không tu chí làm ăn; thời gian đó chị M mới sinh con cũng không có công việc nên vợ chồng thường xuyên cãi vã; anh chị còn mâu thuẫn trong cách nuôi dạy con và mâu thuẫn giữa chị M với gia đình nhà chồng. Cuộc sống chung giữa hai vợ chồng ngày càng bất đồng về quan điểm, khác biệt trong lối sống, tính cách. Mâu thuẫn căng thẳng, anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2016 đến nay, chị M đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Từ khi sống ly thân, anh chị không quan tâm đến nhau về tình cảm cũng như về kinh tế... Vì mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, chị M xác định không còn tình cảm với anh Trung, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị kiên quyết đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh T để giải phóng cho cả hai người.

Về con chung: Quá trình chung sống chị M và anh T có hai con chung là Bùi Khải M, sinh ngày 23/11/2012 và Bùi Khải P, sinh ngày 14/6/2015. Hiện nay, cháu M đang ở với chị M, cháu P đang ở với anh T. Vì vậy, khi ly hôn chị M đồng ý giao con Bùi Khải P cho anh T nuôi, chị Mai nuôi con Bùi Khải M để ổn định cuộc sống và học tập cho các con. Về cấp dưỡng nuôi con, chị M sẽ tự thỏa thuận với anh T, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị M và anh T không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Bùi Mạnh T vắng mặt tại phiên hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa hai lần không có lý do và anh T cũng không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết vụ án gửi Tòa án.

Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án về cơ bản đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; vắng mặt hai lần tại phiên tòa không có lý do dù đã được tống đạt hợp lệ. Vì vậy, Tòa án tiếp tục xét xử vụ án là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Tòa án đã thụ lý vụ án theo đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ được thẩm tra công khai tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị M được ly hôn với anh T. Giao con Bùi Khải M, sinh ngày 23/11/2012 cho chị M nuôi; giao con Bùi Khải P, sinh ngày 14/6/2015 cho anh T nuôi; việc cấp dưỡng nuôi con chị M không yêu cầu nên không xem xét giải quyết; tài sản chung nguyên đơn không yêu cầu nên không đặt vấn đề giải quyết. Chị M phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Tòa án nhận định:

Xét về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1] Đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Bùi Mạnh T cư trú trên địa bàn quận Ngô Quyền nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

2] Về thời hạn giải quyết vụ án: Vụ án thụ lý ngày 11/5/2018 đến ngày 11/9/2018 có quyết định đưa vụ án ra xét xử là đảm bảo thời hạn giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bị đơn là anh Bùi Mạnh T đến Tòa án nhiều lần nhưng không thể tống đạt trực tiếp các văn bản cho bị đơn được vì anh T không có mặt tại nơi cư trú. Vì vậy, Tòa án đã lập biên bản về việc không thực hiện được việc tống đạt cho anh T đồng thời niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, trụ sở Uỷ ban nhân dân phường G và tại nơi cư trú của anh T các văn bản như: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do tại phiên hòa giải nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Và anh T cũng không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết vụ án gửi Tòa án. Tại phiên tòa ngày 10/10/2018, anh Bùi Mạnh T vắng mặt lần thứ nhất không có lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa và tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Trung. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn tiếp tục vắng mặt lần thứ hai không có lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân:

[4] Điều kiện và quá trình kết hôn như chị M đã trình bày, hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp. Theo chị M trình bày và tài liệu xác minh, Tòa án xét thấy cuộc sống vợ chồng giữa anh T và chị M đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh chị bất đồng về quan điểm sống, tính cách không phù hợp, thường xuyên xảy ra cãi vã do mâu thuẫn trong đời sống kinh tế, trong cách nuôi dạy con... Tại phiên tòa, chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn; anh chị sống ly thân đã hơn 02 năm nay, không còn quan tâm đến nhau về tình cảm, độc lập về kinh tế; anh T không có mặt tại phiên hòa giải và tại phiên tòa dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, cũng không có quan điểm giải quyết vụ án gửi Tòa án. Tòa án xét thấy, cuộc sống chung giữa chị Đào Thị Thanh M và anh Bùi Mạnh T đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn; đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về việc nuôi con:

[5] Chị M và anh T có hai con chung như chị M đã trình bày. Hiện nay anh chị đang sống ly thân, chị M nuôi con Bùi Khải M, anh T nuôi con Bùi Khải P nên cần chấp nhận yêu cầu của chị M, giao con Bùi Khải M cho chị M trực tiếp nuôi và giao con Bùi Khải P cho anh T trực tiếp nuôi để ổn định cuộc sống của các con là phù hợp với quy định của pháp luật và tình hình thực tế của mỗi bên. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị M không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

- Về việc chia tài sản chung:

[6] Chị M không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

- Về án phí:

[7] Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chị Đào Thị Thanh M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[8] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị Thanh M được ly hôn anh Bùi Mạnh T.

2. Về việc nuôi con:

Chị Đào Thị Thanh M và anh Bùi Mạnh T có hai con chung là Bùi Khải M, sinh ngày 23/11/2012 và Bùi Khải P, sinh ngày 14/6/2015. Giao con Bùi Khải M cho chị M trực tiếp nuôi, giao con Bùi Khải P cho anh T trực tiếp nuôi cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị M không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về việc chia tài sản:

Chị Đào Thị Thanh M không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí:

Chị Đào Thị Thanh M phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 14597 ngày 09 tháng 5 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Chị M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Chị Đào Thị Thanh M được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Anh Bùi Mạnh T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


63
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 63/2018/HNGĐ-ST ngày 26/10/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:63/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:26/10/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về