Bản án 62/2019/HNGĐ-ST ngày 03/05/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 62/2019/HNGĐ-ST NGÀY 03/05/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 03 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2019/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2019/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2019/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D; địa chỉ: Thôn 6, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Hoàng Đắc B; địa chỉ: Thôn 6, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 23 tháng 10 năm 2018 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D và anh Hoàng Đắc B đăng ký kết hôn ngày 01 tháng 11 năm 2000 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện. Sau khi cưới, chị D, anh B chung sống hòa thuận hạnh phúc tại gia đình anh B đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, anh B không chung thủy, không quan tâm tới cuộc sống vợ chồng dẫn đến thường xuyên cãi mắng xúc phạm nhau. Mâu thuẫn hai vợ chồng cũng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không cải thiện được mà ngày càng căng thẳng hơn. Vợ chồng sống ly thân từ khoảng giữa năm 2018 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, chị và anh B không còn quan tâm đến nhau. Chị D nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh B.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị D khai vợ chồng có 03 con chung là Hoàng Đắc Q sinh ngày 12/9/2001; Hoàng Thị Xuân M sinh ngày 18/8/2006 và Hoàng Đắc V sinh ngày 06/9/2011. Từ khi ly thân, anh B là người trực tiếp nuôi ba con chung. Tuy nhiên, trường hợp ly hôn, chị có nguyện vọng xin được nuôi con tên Hoàng Đắc V. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị muốn tự thỏa thuận với anh B nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị D khai vợ chồng có tài sản chung nhưng thống nhất tự phân chia, nếu không xong sẽ đề nghị Tòa án giải quyết sau.

Bị đơn là anh Hoàng Đắc B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng khác nhưng đến ngày mở phiên tòa lần thứ hai, anh Bắc vẫn vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, anh B đã có lời khai có trong hồ sơ thể hiện việc kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng, con chung và tài sản chung vợ chồng như chị D đã khai là đúng. Nay anh đồng ý ly hôn chị D và đề nghị được tiếp tục nuôi ba con chung hoặc để chị D trực tiếp nuôi ba con chung anh cũng đồng ý.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Bị đơn là anh Hoàng Đắc B chưa tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ tài liệu điều tra có trong hồ sơ thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị D và anh Hoàng Đắc B đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị D và anh Hoàng Đắc B; giao con chung tên Hoàng Đắc V cho chị Nguyễn Thị D nuôi dưỡng; giao con Hoàng Đắc Q, Hoàng Thị Xuân M cho anh B nuôi dưỡng. Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị D vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Hoàng Đắc B đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để anh Bắc có mặt tại Toà án trình bày ý kiến của mình về việc chị Nguyễn Thị D có đơn xin ly hôn nhưng anh B vắng mặt tại phiên tòa hai lần không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn là chị Nguyễn Thị D và bị đơn là anh Hoàng Đắc B.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị D và anh Hoàng Đắc B là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến giữa năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi mắng xúc phạm nhau. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ giữa năm 2018 cho đến nay, trong thời gian ly thân hai bên không còn quan tâm đến nhau mặc dù đã được người thân hai bên gia đình hòa giải. Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh B phù hợp với lời khai của chị D. Như vậy thể hiện tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh B đã trầm trọng, khả năng vợ chồng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị D về việc xin ly hôn anh Hoàng Đắc B.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị D và anh Hoàng Đắc B có 03 con chung là Hoàng Đắc Q sinh ngày 12 tháng 09 năm 2001; Hoàng Thị Xuân M sinh ngày 18 tháng 08 năm 2006 và Hoàng Đắc V sinh ngày 06 tháng 09 năm 2011. Từ khi ly thân, anh B là người trực tiếp nuôi ba con chung. Tuy nhiên, trường hợp ly hôn, chị D có nguyện vọng xin được nuôi con tên Hoàng Đắc V vì theo chị D, cháu V còn nhỏ rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Anh B có nguyện vọng được nuôi ba con hoặc chị D muốn nuôi ba con anh cũng đồng ý nhưng anh B vắng mặt tại các buổi hòa giải và không đến phiên tòa xét xử. Việc giao con cho ai nuôi cần xem xét để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Xét thấy cháu Hoàng Đắc V còn nhỏ tuổi rất cần sự chăm sóc của người mẹ, hơn thế nữa, cháu cũng có nguyện vọng xin ở với mẹ nên cần giao con Hoàng Đắc V cho chị D nuôi dưỡng. Cháu Hoàng Đắc Q và Hoàng Thị Xuân M có nguyện vọng xin được ở với bố nên cần giao con Hoàng Đắc Q và Hoàng Thị Xuân M cho anh Hoàng Đắc B nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị D và anh Hoàng Đắc B không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị D và anh Hoàng Đắc B.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung Hoàng Đắc V sinh ngày 06 tháng 09 năm 2011 cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Hoàng Đắc V đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; giao con chung Hoàng Đắc Q sinh ngày 12 tháng 09 năm 2001 và Hoàng Thị Xuân M sinh ngày 18 tháng 09 năm 2006 cho anh Hoàng Đắc B trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Hoàng Đắc Q, cháu Hoàng Thị Xuân M đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

2.2. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí chị D đã nộp theo biên lai số 0000238 ngày 08/01/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị D đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


35
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 62/2019/HNGĐ-ST ngày 03/05/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:62/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:03/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về