Bản án 62/2019/DS-ST ngày 03/10/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 62/2019/DS-ST NGÀY 03/10/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 03 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 158/2019/TLST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77b/2019/QĐXXST-DS ngày 30/8/2019, quyết định hoàn phiên tòa số 78/2019/QĐST-DS ngày 16/9/2019. Giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S; Địa chỉ trụ sở: 26x-2xx NKKN, Phường x, Quận x, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên hệ: 2xx khu phố x, thị trấn MC, huyện MC, tỉnh Bến Tre.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạnh D – Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Ngô Châu N – Trưởng phòng giao dịch MC. (xin vắng mặt)

Bị đơn: Nguyn Hữu N, sinh năm 1983; Nơi cư trú: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 11/3/2019 của nguyên đơn và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Ngô Châu Ni trình bày: Vào ngày 22/6/2018, Ngân hàng Thương mại cổ phần S – Phòng Giao dịch MC ký kết giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ cho ông Nguyễn Hữu N vay số tiền 20.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng, thời hạn vay 12 tháng với mức lãi suất 15%/năm, lãi quá hạn bằng 150% so với lãi trong hạn. Phương thức trả nợ là lãi trả hàng tháng, vốn trả hàng tháng theo dư nợ ban đầu vào ngày 30 mỗi tháng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Hữu N trả nợ được 01 kỳ với số tiền trả nợ gốc là 1.666.000 đồng, tiền lãi là 250.000 đồng. Từ kỳ thứ 2 thì ông Nguyễn Hữu N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi mặc dù ngân hàng đã nhiều lần liên hệ yêu cầu ông Nghĩa trả nợ. Tính đến thời điểm xét xử, ông N còn nợ 24.064.240 đồng trong đó 18.334.000 đồng nợ gốc, 2.750.000 đồng tiền lãi trong hạn và 2.980.240 đồng lãi quá hạn phát sinh. Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu ông Nguyễn Hữu N trả cho ngân hàng số tiền trên, yêu cầu tiếp tục tính lãi từ ngày tiếp theo ngày 03/10/2019 đến khi trả tất nợ theo mức lãi suất tại hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Bị đơn ông Nguyễn Hữu N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ trong suốt quá trình giải quyết vụ án nhưng vẫn vắng mặt không lý do và cũng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, những người tiến hành tố tụng, nguyên đơn đã tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành các nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án đề nghị Tòa án áp dụng các Điều 463; 464; 466; 468 Bộ luật Dân sự; Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự buộc ông Nguyễn Hữu N trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 24.064.240 đồng trong đó có 18.334.000 đồng nợ gốc, 2.750.000 đồng tiền lãi trong hạn và 2.980.240 đồng lãi quá hạn phát sinh, ông Nguyễn Hữu N phải tiếp tục chịu lãi kể từ ngày tiếp theo của ngày 03/10/2019 theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đến khi trả tất nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định đây là vụ án dân sự về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.

[1] Xét thấy bị đơn Nguyễn Hữu N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của ngân hàng Thương mại cổ phần S, thấy rằng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, bản sao chụp đơn khởi kiện cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn giao nộp, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần nhưng ông Nguyễn Hữu N không có mặt tại Tòa cũng như không trình bày ý kiến về nội dung khởi kiện của Ngân hàng. Vì vậy, căn cứ vào Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD 1817300227 ngày 22/6/2018 và phương án nhận nợ ngày 22/6/2018 có cơ sở xác định ông N có vay của Ngân hàng số tiền 20.000.000 đồng. Việc ký kết hợp đồng là sự tự nguyện của các bên nên các bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận. Theo đó, các bên đã thỏa thuận lãi suất trong hạn là 15%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, phương thức trả nợ là vốn và lãi được chia thành 12 kỳ, kỳ hạn trả nợ mỗi tháng 01 lần, kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 30/7/2018, các kỳ trả nợ tiếp theo vào ngày 30 hàng tháng, số tiền trả nợ mỗi kỳ là 1.916.000 đồng trong đó vốn gốc là 1.666.000 đồng, lãi là 250.000 đồng, riêng kỳ cuối thì số tiền nợ gốc phải trả là 1.674.000 đồng, tiền lãi là 250.000 đồng. Quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ, ông Nguyễn Hữu N chỉ trả được 01 kỳ với số tiền nợ gốc đã trả là 1.666.000 đồng, tiền lãi đã trả là 250.000 đồng. Do đó, tính đến ngày xét xử, ông N còn nợ ngân hàng 18.334.000 đồng nợ gốc, 2.750.000 đồng tiền lãi trong hạn và 2.980.240 đồng lãi quá hạn phát sinh.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy, bản thân ông Nguyễn Hữu N ký hợp đồng tín dụng để vay tiền tại Ngân hàng Thương mại cổ phần S – Phòng Giao dịch Mỏ Cày nhưng không thực hiện nghĩa vụ tại các kỳ trả nợ thứ 02 đến 12 là vi phạm hợp đồng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng. Vì vậy, cần buộc ông N phải trả cho ngân hàng Thương mại cổ phần S 18.334.000 đồng nợ gốc, 2.750.000 đồng tiền lãi trong hạn và 2.980.240 đồng lãi quá hạn phát sinh theo khởi kiện của nguyên đơn, ông N còn phải chịu lãi theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày 03/10/2019 đến khi tất nợ.

[4] Ông Nguyễn Hữu N là người phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu án phí là 1.203.000 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 463; 464; 466; 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 227; 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

Buộc ông Nguyễn Hữu N phải hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 18.334.000 đồng nợ gốc, 2.750.000 đồng tiền lãi trong hạn và 2.980.240 đồng lãi quá hạn phát sinh.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

[2] Buộc ông Nguyễn Hữu N phải nộp 1.203.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 521.000 đồng theo biên lai thu số 0002975 ngày 30/5/2019 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ được tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


30
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 62/2019/DS-ST ngày 03/10/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:62/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỏ Cày Bắc - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 03/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về