Bản án 62/2018/HNGĐ-ST ngày 17/09/2018 về ly hôn và quyền nuôi con chung giữa chị T và anh H

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 62/2018/HNGĐ-ST NGÀY 17/09/2018 VỀ LY HÔN VÀ QUYỀN NUÔI CON CHUNG GIỮA CHỊ T VÀ ANH H

Ngày 17 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:193/2017/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2018. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48 /2018 ngày 16 tháng 7 năm 2018 giữa

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1975. Địa chỉ: 60B Nguyễn Hoàng, phường 7, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

Bị đơn: Anh Trần Phi H, sinh năm 1974. Địa chỉ: 67 Cao Bá Quát, phường 7, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, chị Nguyễn Thị Bích T trình bày: Chị và anh Trần Phi H đăng ký kết hôn năm 1997 tại UBND phường G, thành phố Đ, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức. Sau khi kết hôn vợ chồng sống cùng gia đình anh Hổ tại: Số đường Cao Bá Quát, phường G, thành phố Đ, tỉnh L. Cuộc sống vợ chồng không hòa thuận hạnh phúc ngay từ khi mới kết hôn, vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H thường xuyên uống rượu rồi về gây gổ, đánh đập chị, chị đã khuyên giải nhiều lần nhưng anh H không thay đổi, vì không chịu đựng được nên năm 2012 chị đưa con chuyển về sống với cha mẹ đẻ chị tại Nguyễn Hoàng, phường G, thành phố Đ và vợ chồng chị sống ly hôn từ đó đến nay. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm với anh H, tình trạng hôn nhân không thể hàn gắn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hổ.

Về con chung: Giữa chị và anh H có 02 con chung tên Trần Hoàng Bảo S, sinh ngày 25/10/1998 và Trần Hoàng Gia B, sinh ngày 09/8/2005. Ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên tên Bảo và yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ/tháng cho đến khi con thành niên.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị xác định không có.

Anh Trần Phi H được triệu tập hợp lệ nhưng không đến tòa để trình bày ý kiến.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Nguyễn Thị Bích T không có ý kiến thay đổi, bổ xung yêu cầu nào khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt phát biểu ý kiến về sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án cũng như của Hội đồng xét xử tại phiên tòa và việc tuân theo pháp luật của nhưng người tham gia tố tụng.

Về giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Bích T và anh Trần Phi H; Giao con tên Trần Hoàng Gia B, sinh ngày 09/8/2005 cho chị Nguyễn Thị Bích T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên; buộc anh Hổ cấp dưỡng nuôi con tên Trần Hoàng Gia B, sinh ngày 09/8/2005 mỗi tháng 1.000.000đ, thời gian cấp dưỡng tình từ tháng 9/2018 cho đến khi con thành niên.Về tài sản chung và nợ chung không có tranh chấp nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Bích T khởi kiện, yêu cầu ly hôn anh Trần Phi H, anh H không đến tòa để trình bày ý kiến về quan hệ hôn nhân cũng như về việc nuôi con chung nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn và quyền nuôi con chung” theo quy định tại khoản 2, 5 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Trần Phi H hiện đang cư trú tại địa chỉ: Cao Bá Quát, phường G, thành phố Đ, tỉnh L, nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng Dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh L.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ, anh Trần Phi H không có mặt, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt.

[3] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bích T và anh Trần Phi H kết hôn do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân có thẩm quyền và được cấp giấy chứng nhận kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa hai bên là hợp pháp. Cuộc sống chung vợ chồng theo chị Nguyễn Thị Bích T không có hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn, nguyên nhân là anh H uống rượu rồi về gây gổ, đánh đập chị, chị và gia đình cha mẹ hai bên đã khuyên giải nhiều lần nhưng anh H không thay đổi. Tại phiên Tòa hội đồng xét xử động viên chị Thủy trở lại đoàn tụ gia đình với anh H nhưng chị T không đồng ý vì đã nhiều lần chi xin ly hôn tòa án hòa giải về đoàn tụ nhưng anh H không thay đổi. Anh H được tòa án triêu tập hợp lệ nhưng không có mặt là thể hiện thái độ không còn mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị T. Qua xác minh được biết mâu thuẫn giữa hai bên là có thật, nguyên nhân đúng như chị T trình bày, hiện tại vợ chồng không còn sống chung với nhau .

Với thực trạng của quan hệ hôn nhân thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng đối với nhau không còn, có kéo dài thì mục đích của hôn nhân cũng không đạt được, yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Bích T là có căn cứ. Vì vậy áp dụng Điều 56 luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Bích Th, cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Bích Th và anh Trần Phi H.

[4] Về con chung: Vợ chồng có có 02 con chung tên Trần Hoàng Bảo S, sinh ngày 25/10/1998 đã thành niên và Trần Hoàng Gia B, sinh ngày 09/8/2005. Ly hôn chị Th yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Hoàng Gia B chưa thành niên. Xét thấy cháu Trần Hoàng Gia B có nguyện vọng ở với mẹ, vì vậy chấp nhận yêu cầu của chị Thủy, giao con chung tên Trần Hoàng Gia B cho chị Nguyễn Thị Bích Th trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên là phù hợp với qui định của pháp luật.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Th yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con tên B chưa thành niên mỗi tháng 1.000.000đ/tháng. Xét thấy việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha mẹ, mức cấp dưỡng chị Th yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con phù hợp với chi phí thực tế để cùng nuôi con, nên yêu cầu của chị Th là là có căn cứ chấp nhận, buộc anh H cấp dưỡng nuôi con tên Trần Hoàng Gia B mỗi tháng 1.000.000đ, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 9/2018 cho đến khi con thành niên.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Bích Th không có tranh chấp nên không đề cập.

[7] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích T phải chịu án phí sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật. Anh H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Bích Th và anh Trần Phi H.

2. Về quyền nuôi con chung: Giao con chung tên Trần Hoàng Gia B, sinh ngày 09/8/2005 cho chị Nguyễn Thị Bích Th trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên.

Buộc anh Trần Phi H cấp dưỡng nuôi con tên Trần Hoàng Gia B, sinh ngày 09/8/2005 mỗi tháng 1.000.000đ, thời gian cấp dưỡng tình từ tháng 9/2018 cho đến khi con thành niên.

Nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp, không trực tiếp nuôi con, thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày chị Thủy có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền cấp dưỡng nuôi con cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng anh Hổ còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng (được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2016/0007902 ngày 04 tháng 4 năm 2018 của Chị cục Thi hành án dân sự thành phố ĐL, tỉnh LĐ). Anh Trần Phi H phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.

Chị Nguyễn Thị Bích Th có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Trần Phi H vắng mặt tại phiên toà được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


72
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 62/2018/HNGĐ-ST ngày 17/09/2018 về ly hôn và quyền nuôi con chung giữa chị T và anh H

Số hiệu:62/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Đà Lạt - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 17/09/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về