Bản án 60/2019/HNGĐ-ST ngày 08/07/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 60/2019/HNGĐ-ST NGÀY 08/07/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 08 tháng 7 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2019 về “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2019/QĐXX-ST ngày 17 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1988 (có mặt)

Địa chỉ: ấp H, xã T, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: ChLê Thị Ngọc H, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp T, thị trấn V, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 12 năm 2018 và những lời khai khác có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Văn S trình bày:

Hôn nhân giữa anh và chị Lê Thị Ngọc H do tự tìm hiểu quen biết tiến tới hôn nhân, được gia đình hai bên đồng ý có tổ chức lễ cưới vào tháng 6 năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 16 tháng 10 năm 2013. Sau ngày cưới vợ chồng sống tại thành phố Cần Thơ được 01 năm thì về gia đình cha mẹ ruột của chị H tại ấp R, thị trấn Vũng Liêm, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long sinh sống. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không còn tình cảm với nhau, không ai quan tâm ai, chị H bỏ nhà đi từ năm 2017 đến nay. Còn anh thì về gia đình cha mẹ ruột tại ấp H, xã T, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long sinh sống. Anh và chị H không còn sống chung từ tháng 10 năm 2017 đến nay.

Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Lê Thị Ngọc H.

- Về con chung: Có hai con chung tên Nguyễn Lê Xuân P, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2013 và Nguyễn Lê Như P, sinh ngày 09 tháng 02 năm 2015 hiện đang sống với anh S. Sau khi ly hôn anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung không yêu cầu chị Lê Thị Ngọc H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung phải thu, phải trả: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra anh không còn yêu cầu nào khác.

* Đối với bị đơn chị Lê Thị Ngọc H:

Chị Lê Thị Ngọc H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp R, thị trấn Vũng Liêm, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long nhưng hiện chị H không có mặt tại địa phương, đi không trình báo với chính quyền địa phương. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng chị H cố tình không hợp tác.

Tài liệu, chứng cứ trong vụ án:

Nguyên đơn đã nộp: Giấy chứng nhận kết hôn bản chính, 02 giấy khai sinh bản sao, quyết định đình chỉ số: 94/2017/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2017, đơn xin xác nhận hộ khẩu thường trú của chị Lê Thị Ngọc H, phiếu chuyển phát nhanh.

Bị đơn chị Lê Thị Ngọc H không đến tham gia tố tụng tại tòa án nên chị H không nộp tài liệu, chứng cứ nào.

Vào ngày 28 tháng 5 năm 2019 Tòa án đã tiến hành xác minh bà Lê Thị N là mẹ ruột của chị Lê Thị Ngọc H, theo bà N trình bày thì chị H có biết việc anh S yêu cầu ly hôn với chị nhưng chị cũng không có ý kiến.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm phát biểu quan điểm: vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, từ khi thụ lý đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự thủ tục.

Hưng giải quyết vụ án: áp dụng Điều 9, 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Điều 28, 35, 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.

- Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn S được ly hôn với chị Lê Thị Ngọc H.

- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Lê Xuân P, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2013 và Nguyễn Lê Như P, sinh ngày 09 tháng 02 năm 2015 cho anh Nguyễn Văn S tiếp tục nuôi dưỡng. Anh S không yêu cầu chị Lê Thị Ngọc H phải cấp dưỡng nuôi con.

- Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Miễn xét.

- Các khoản nợ phải thu, phải trả: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Miễn xét.

- Án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân gia đình: Anh Nguyễn Văn S phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Ngoài ra đương sự không còn yêu cầu nào khác giữ nguyên quan điểm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu và các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng từ khi thụ lý vụ án đến khi vụ án được đưa ra xét xử chị Lê Thị Ngọc H cố tình vắng mặt không lý do, không hợp tác với Tòa án để giải quyết vụ án, chị H biết anh S yêu cầu ly hôn với chị tại Tòa án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Mối quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn S và chị Lê Thị Ngọc H là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Hôn nhân của anh chị do tự tìm hiểu quen biết có tổ chức lễ cưới vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 16 tháng 10 năm 2013. Theo lời trình bày của anh S thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không còn tình cảm với nhau, chị H bỏ nhà đi từ năm 2017 đến nay, hiện nay anh chị không còn sống chung. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh S đã từng nộp đơn khởi kiện xin ly hôn nhưng mâu thuẫn vợ chồng không cải thiện được nên việc anh S yêu cầu ly hôn với chị H là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Con chung: Giao con chung tên Nguyễn Lê Xuân P, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2013 và Nguyễn Lê Như P, sinh ngày 09 tháng 02 năm 2015 cho anh Nguyễn Văn S tiếp tục nuôi dưỡng. Anh S không yêu cầu chị Lê Thị Ngọc H phải cấp dưỡng nuôi con.

[4] Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Miễn xét.

[5] Các khoản nợ phải thu, phải trả: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Miễn xét.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân và gia đình: Anh Nguyễn Văn S nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 9, 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điu 28, 35, 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 3, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn S.

[1] Về mối quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn S được ly hôn với chị Lê Thị Ngọc H.

[2] Con chung: Giao cháu Nguyễn Lê Xuân P, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2013 và Nguyễn Lê Như P, sinh ngày 09 tháng 02 năm 2015 cho anh Nguyễn Văn S nuôi dưỡng. Anh S không yêu cầu chị Lê Thị Ngọc H phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Lê Thị Ngọc H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Ngưi không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

[3] Tài sản chung: Anh Nguyễn Văn S không yêu cầu Tòa án giải quyết. Miễn xét.

[4] Nợ chung phải thu, phải trả: Anh Nguyễn Văn S không yêu cầu Tòa án giải quyết. Miễn xét.

[5] Án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân và gia đình: Anh Nguyễn Văn S nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số N0 0009538 ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm. Anh S đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Tng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ sau ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử lại phúc thẩm./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

171
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 60/2019/HNGĐ-ST ngày 08/07/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:60/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vũng Liêm - Vĩnh Long
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 08/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về