Bản án 59/2020/HNGĐ-ST ngày 03/09/2020 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 59/2020/HNGĐ-ST 03/09/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 03 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 205/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2020/QĐXX-HNGĐ ngày 16/7/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2020/QĐST-HNGĐ ngày 31/7/2020 và số 61/2020/QĐST-HNGĐ ngày 17/8/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đinh Thị Tuyết N - sinh năm 1996

Địa chỉ: Thôn G, xã Ninh H, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Ngô Nhật T - sinh năm 1987

Địa chỉ: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đinh Thị Tuyết N trình bày:

Bà và ông Ngô Nhật T tự nguyện kết hôn vào năm 2017, đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn số 48 ngày 22/7/2017. Từ năm 2018, vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn do ông T không lo làm ăn, cờ bạc dẫn đến nợ nần; ông T còn có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Bà đã nhiều lần khuyên can nhưng ông T vẫn không thay đổi. Bà và ông T đã sống ly thân từ tháng 3/2020 cho đến nay. Nay bà không còn tình cảm với ông T nữa nên xin ly hôn ông T.

Về con chung: Bà và ông T có 01 con chung tên Ngô Nhật H – sinh ngày 13/11/2017, hiện đang do ông T nuôi. Lý do ông T đang nuôi con là khi vợ chồng không sống chung, bà có đưa con về sống với mình nhưng ông T không cho. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết và không nợ chung.

Đối với bị đơn ông Ngô Nhật T: Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa đã tiến hành thực hiện các thủ tục triệu tập, xác minh và tống đạt hợp lệ để lấy lời khai theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông T không đến Tòa án để giải quyết và cũng không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị Tuyết N nên Tòa án đưa vụ án ra giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa đã tuân theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự quy định trong quá trình giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án: Cuộc sống hôn nhân của bà Đinh Thị Tuyết N và ông Ngô Nhật T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà N là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Căn cứ theo quy định tại Điều 58; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao 01 con chung là Ngô Nhật H – sinh ngày 13/11/2017 cho bà N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thủ tục tố tụng: Bà Đinh Thị Tuyết N xin ly hôn ông Ngô Nhật T, yêu cầu giải quyết con chung, tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn ông Ngô Nhật T hiện đang cư trú tại thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Ngô Nhật T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Ngô Nhật T.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị Tuyết N và ông Ngô Nhật T tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2017, đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn số 48 ngày 22/7/2017, đây là hôn nhân hợp pháp.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Cuộc sống vợ chồng bà N và ông T có xảy ra mâu thuẫn nhưng vợ chồng không thể cùng nhau giải quyết mâu thuẫn. Từ đó dẫn đến mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không hạnh phúc. Hiện nay bà N và ông T đã không còn sống chung với nhau, không ai quan tâm đến ai. Bị đơn ông Ngô Nhật T đã được Tòa án triệu tập để tiến hành hòa giải nhưng vẫn vắng mặt, thể hiện ông T cũng không muốn hòa giải, hàn gắn cuộc sống gia đình với bà N.

Có thể thấy, đời sống chung của vợ chồng bà N và ông T không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của bà N. Bà N được ly hôn với ông T.

[2.2] Về con chung: Bà N và ông T có 01 con chung là Ngô Nhật H – sinh ngày 13/11/2017. Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu Ngô Nhật H – sinh ngày 13/11/2017, hiện nay chưa đủ 36 tháng tuổi, còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của người mẹ. Do đó, yêu cầu nuôi con chung sau khi ly hôn của bà N là có cơ sở chấp nhận. Theo biên bản xác minh ngày 17/8/2020 tại Ủy ban nhân dân xã N thì cháu H hiện đang sinh sống cùng ông T tại thôn T, xã N, thị xã N. Do đó, cần buộc ông Ngô Nhật T phải có nghĩa vụ giao con chung là Ngô Nhật H – sinh ngày 13/11/2017 cho bà N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục để đảm bảo tốt hơn cho sự phát triển của con chung và phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn Nhân và gia đình. Bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Bà Đinh Thị Tuyết N phải nộp án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị Tuyết N.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị Tuyết N được ly hôn với ông Ngô Nhật T. Về con chung: Ông Ngô Nhật T phải giao con chung là Ngô Nhật H – sinh ngày 13/11/2017 cho bà Đinh Thị Tuyết N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến đủ 18 tuổi. Bà Đinh Thị Tuyết N không yêu cầu ông Ngô Nhật T cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét. Ông Ngô Nhật T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có thể yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng và người nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đinh Thị Tuyết N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Đinh Thị Tuyết N phải nộp 300.000đ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) bà N đã nộp theo biên lai số AA/2018/0009419 ngày 05/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa. Như vậy, bà N đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.


1
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 59/2020/HNGĐ-ST ngày 03/09/2020 về ly hôn

Số hiệu:59/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Ninh Hòa - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:03/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về