Bản án 584/2019/HNGĐ-ST ngày 27/09/2019 về ly hôn giữa bà T và ông H

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 584/2019/HNGĐ-ST NGÀY 27/09/2019 VỀ LY HÔN GIỮA BÀ T VÀ ÔNG H

Ngày 27 tháng 09 năm 2019 tại Tòa án nhân dân Quận 10 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 486/2019/TLST-DS ngày 12 tháng 08 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 178/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 09 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Lê Thị Bảo T – sinh năm 1984 (vắng mặt)

Thường trú: đường M, Phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Trần Xuân H – sinh năm 1984 (vắng mặt)

Thường trú: đường X, Phường Y, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 31/07/2019 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Lê Thị Bảo T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông Trần Xuân H tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 120, quyển số 01/2007 của Ủy ban nhân dân phường Y, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh, cấp ngày 07/09/2007. Trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, không hòa hợp tính tình, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, mặc dù đã nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả. Do đó bà T xin được ly hôn với ông H.

Về con chung: Bà T sẽ trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Trần Ngọc Bảo H (nữ) sinh ngày 17/01/2010. Bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con vì bà có đủ khả năng.

Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự: Không có, nên không yêu cầu tòa giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 05/09/2019 bị đơn là ông Trần Xuân H trình bày:

Ông H đồng ý ly hôn với bà Lê Thị Bảo T. Về con chung: đồng ý giao con cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự: không có.

Tại phiên tòa hôm nay, bà Lê Thị Bảo T và ông Trần Xuân H đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về việc: “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Do bị đơn là ông Trần Xuân H thường trú tại Quận 10 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng của Tòa án:

Xét nguyên đơn là bà Lê Thị Bảo T và bị đơn là ông Trần Xuân H đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về yêu cầu đương sự:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 120, quyển số 01/2007 của Ủy ban nhân dân Phường Y, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh, cấp ngày 07/09/2007. Hội đồng xét xử nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Bảo T và ông Trần Xuân H là tự nguyện, tiến bộ và hợp pháp.

Theo lời trình bày của bà T thì quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, không hòa hợp tính tình, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, mặc dù đã nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả. Do đó bà T xin được ly hôn với ông H.

Ông H có đơn xin không tiến hành hòa giải vụ án, đơn xin vắng mặt vì hiện nay ông H đang cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy Phước Bình. Tại bản tự khai ông H đồng ý ly hôn với bà T vì bà T đã yêu cầu ly hôn nhiều lần.

Xét thấy, theo lời trình bày của cả hai thì mâu thuẩn giữa bà T và ông H là có thật nên cả hai đều không còn thiết tha vun đắp cho hạnh phúc chung dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Lê Thị Bảo T được ly hôn với ông Trần Xuân H.

[3.2] Về con chung:

Căn cứ vào giấy khai sinh số 39, quyển số 01/2010 của Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, đăng ký ngày 03/02/2010. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định trẻ Trần Ngọc Bảo H (nữ), sinh ngày 17/01/2010 là con chung của bà Lê Thị Bảo T và ông Trần Xuân H.

Xét thấy: Trẻ H là nữ và bị chậm phát triển tâm thần nặng – rối loạn hành vi nên cần thiết phải giao cho người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo việc phát triển tâm sinh lý ổn định. Mặt khác, ông H cũng đồng ý giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Do do, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn mà giao con chung tên Trần Ngọc Bảo H (nữ), sinh ngày 17/01/2010 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Tm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho ông H do bà T có khả năng và không có yêu cầu.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà Lê Thị Bảo T và ông Trần Xuân H cùng khai không có nên không yêu cầu tòa giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Bảo T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự.

Xử:

1. Xét xử vắng mặt nguyên đơn là bà Lê Thị Bảo T và bị đơn là ông Trần Xuân H.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lê Thị Bảo T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Bảo T được ly hôn với ông Trần Xuân H.

Về con chung: Giao con chung tên Trần Ngọc Bảo H (nữ), sinh ngày 17/01/2010 cho bà Lê Thị Bảo T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho ông H do bà T có khả năng và không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung, nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà Lê Thị Bảo T và ông Trần Xuân H cùng khai không có nên không yêu cầu tòa giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Bảo T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số AA/2018/0017669 ngày 07/08/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Quyền kháng cáo: Bà Lê Thị Bảo T và ông Trần Xuân H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.


33
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 584/2019/HNGĐ-ST ngày 27/09/2019 về ly hôn giữa bà T và ông H

Số hiệu:584/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 10 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 27/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về