Bản án 58/2020/HS-PT ngày 26/02/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 58/2020/HS-PT NGÀY 26/02/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 26 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 389/2019/TLPT-HS ngày 12 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo Võ Anh Qu; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 87/2019/HS-ST ngày 11/09/2019 của Tòa án nhân dân huyện X.

- Bị cáo có kháng cáo: Võ Anh Qu, sinh năm 1999 tại Bình Thuận; Giấy chứng minh nhân dân số: 26150862X do Công an tỉnh Bình Thuận cấp ngày 23/7/2014; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Tổ A, Thôn R, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn S và Trần Thị T; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 08/4/2019 đến ngày 17/4/2019; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số: 01/2020/LCĐKNCT ngày 04-02-2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa.

- Ngoài ra, vụ án còn có bị cáo Lê Thương T không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị; Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Khoảng 11 giờ ngày 08/4/2019, Võ Anh Qu đã rủ Lê Thương T cùng đi trộm cắp tài sản thì T đồng ý. Qu điều khiển xe mô tô kiểu dáng Wave, màu đen bạc, biển số 62K6-355X chở T, đi từ thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận, theo tỉnh lộ 766 đến thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi trên đường Ph thuộc khu phố Q, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai, T phát hiện tại móc treo đồ phía dưới cổ xe mô tô biển số 60B5- 373.XX của chị Nguyễn Thị Hồng Ng, đang đỗ cạnh lề đường, phía trước quán nước không tên, có treo 01 giỏ xách nữ màu trắng bạc hiệu Pedro; T liền nói với Qu:có giỏ xách kìa, quay lại đi”. Lúc này, chị Ng đang vào quán mua nước nên không để ý đến xe mô tô và giỏ xách của mình. Qu liền điều khiển xe mô tô chở T quay lại, dừng xe song song với xe mô tô của chị Ng; T lén lút dùng tay lấy giỏ xách treo trên xe của chị Ng và chiếm đoạt 01 giỏ xách nêu trên.

Sau khi chiếm đoạt được tài sản, Qu điều khiển xe mô tô nói trên chở T bỏ chạy theo đường tỉnh lộ 766 về hướng huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Khi Qu và T bỏ chạy được khoảng 100m, chị Ng phát hiện và tri hô; cùng lúc này, anh Nguyễn Trung H có mặt tại hiện trường liền điều khiển xe mô tô đuổi theo và điện thoại báo cho Cơ quan Công an. Nhận được tin báo, Đội Cảnh sát hình sự - Công an huyện X phối hợp với Công an xã X, huyện X tiến hành truy đuổi, chốt chặn và đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày đã bắt được Qu và T, tại ấp T, xã X, huyện X. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ xe mô tô và tài sản bị chiếm đoạt nói trên.

2. Vật chứng:

- 01 giỏ xách nữ màu trắng bạc hiệu Pedro; bên trong giỏ có: 01 vòng đeo tay bằng vàng 18K, 01 sợi dây chuyền vàng 18K, 01 mặt dây chuyền hình phật bằng vàng 18K, 01 mặt dây chuyền có đính viên đá trắng, 01 nhẫn đeo tay bằng vàng 18K, 01 nhẫn đeo tay bằng vàng 18K có đính đá, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F3 màu hồng, 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60B5- 373.XX mang tên Nguyễn Thị Hồng Ng và 01 thẻ sinh viên mang tên Nguyễn Thị Hồng Ng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã trả lại cho chị Ng.

- 01 xe mô tô kiểu dáng Wave, màu đen bạc, biển số 62K6-355X do anh Nguyễn Văn Đ đứng tên chủ sở hữu nhưng đã bán chiếc xe trên. Hiện nay, anh Lê Quang Ngh đã mua lại xe và là người quản lý, sử dụng hợp pháp. Bị cáo T mượn xe và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản anh Ngh không biết; Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện X đã trả lại cho anh Ngh.

3. Định giá:

Ti Kết luận định giá tài sản số: 26/KL-HĐĐG ngày 16/4/2019 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện X, kết luận giá trị còn lại của các tài sản gồm 01 giỏ xách nữ màu trắng bạc và các tài sản bên trong giỏ nêu trên, có tổng giá trị là 12.503.500 đồng.

4. Về dân sự:

Chị Nguyễn Thị Hồng Ng không yêu cầu bồi thường về dân sự; do đó, cấp sơ thẩm không xem xét, giải quyết.

5. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Ti Bản án hình sự sơ thẩm số: 87/2019/HS-ST ngày 11 - 9 - 2019 của Tòa án nhân dân huyện X, đã quyết định như sau:

- Tuyên bố bị cáo Võ Anh Qu và bị cáo Lê Thương T phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Qu 10 (mười) tháng tù; xử phạt bị cáo T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

6. Kháng cáo:

Ngày 20-9-2019, bị cáo Võ Anh Qu kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu được hưởng án treo.

7. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

Kim sát viên đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án; xác định cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện vụ án và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo; do đó, mức án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Bị cáo Võ Anh Qu đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập tham gia phiên tòa; tuy nhiên, bị cáo Qu vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về tội danh:

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Võ Anh Qu về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Về kháng cáo:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Võ Anh Qu xúi giục người dưới 18 tuổi (Lê Thương T) phạm tội; thuộc điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Cấp sơ thẩm xác định: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; thuộc các trường hợp được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

+ Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo cung cấp tài liệu thể hiện bà cố của bị cáo tên Nguyễn Thị C được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì; vì có thành tích tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp; thuộc trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Về hình phạt: Bản án hình sự sơ thẩm đã xem xét và đánh giá toàn bộ vụ án; mặc dù, bị cáo có cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới nêu trên nhưng quyết định về hình phạt của cấp sơ thẩm đối với bị cáo là phù hợp; do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[4] Về án phí: n cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Đối với phần trình bày của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai là phù hợp, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

n cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Anh Qu;

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 87/2019/HS-ST ngày 11-9- 2019 của Tòa án nhân dân huyện X.

1. Hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Võ Anh Qu 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù được tính từ ngày người bị kết án Võ Anh Qu vào cơ sở giam giữ chấp hành án phạt tù; được trừ vào thời hạn đã bị tạm giữ, từ ngày 08/4/2019 đến ngày 17/4/2019.

2. Về án phí:

Bị cáo Võ Anh Qu phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo khác và án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bn án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


5
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 58/2020/HS-PT ngày 26/02/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:58/2020/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đồng Nai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 26/02/2020
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về