Bản án 58/2019/HNGĐ-ST ngày 28/10/2019 về tranh chấp xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 58/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/10/2019 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN

Trong ngày 28 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Phước mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 144/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2019 về tranh chấp "xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2019/QĐXX-ST ngày 18 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2019/QĐ-HPT ngày 09/10/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tú A (N), sinh năm 1989.

Đa chỉ: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh T.

2. Bị đơn: Anh Trần Văn L, sinh năm 1990.

Đa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh T.

- Chị A có mặt tại phiên tòa.

- Anh L vắng mặt không lý do dù được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai cùng ngày 09/7/2019 nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tú A trình bày: Tôi và anh Trần văn L cưới nhau vào năm 2013, có quen biết tìm hiểu trước và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Lý do là do bất đồng quan điểm về kinh tế, anh L không lo làm ăn mà đam mê 2 cờ bạc và gây nợ nần. Vợ chồng ly thân từ tháng 9/2017 đến nay, nên tôi không thể tiếp tục chung sống với anh L được nữa. Về con chung: Có một con chung là Trần Nguyễn Như N, sinh ngày 25/9/2014, hiện đang sống với tôi; Về tài sản chung: Không có; Về nợ chung: không có.

Nay tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Trần văn L; Về con chung: Yêu cầu tiếp tục nuôi một con chung là Trần Nguyễn Như N, sinh ngày 25/9/2014. Không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: không có.

- Bị đơn anh Trần văn L đã được Tòa án thông báo về yêu cầu khởi kiện của chị A và cũng được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để hòa giải nhưng anh L vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản, ý kiến trả lời theo thông báo của Tòa án.

* Tại phiên tòa hôm nay:

- Chị Nguyễn Thị Tú A yêu cầu được ly hôn với anh Trần văn L; Về con chung: Yêu cầu tiếp tục nuôi một con chung là Trần Nguyễn Như N, sinh ngày 25/9/2014. Không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: không có.

- Anh L vắng mặt không lý do dù được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Hội đồng xét thấy theo đơn khởi kiện và yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tú A, thì chị A khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Phước giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần văn L. Anh Trần văn L hiện đang cư trú tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh T. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước theo qui định tại Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp "Ly hôn" qui định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị đơn anh Trần văn L không có yêu cầu phản tố và đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để xét xử nhưng anh L vẫn vắng mặt hai lần không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt đối với bị đơn anh Trần văn L.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị Tú A yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần văn L. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Tú A, Hội đồng xét xử xét thấy chị A và anh L có quen biết tìm hiểu trước và cưới nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu anh, chị chung sống hạnh phúc, đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Lý do chị A xác định là do bất đồng quan điểm về kinh tế anh L không lo làm ăn mà đam mê cờ bạc và gây nợ nần, vợ chồng ly thân nhau từ năm 2017 đến nay, thời gian ly thân vợ chồng cũng không hàn gắn được gì. Hội đồng xét xử xét thấy thực tế thời gian ly thân của chị A và anh L từ năm 2017 đến nay là đã lâu, trong thời gian ly thân nhau, chị A và anh L 3 cũng không có một động thái nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Chị A xin được ly hôn đối với anh L vì tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Bị đơn anh Trần văn L đã được Tòa án thông báo về yêu cầu khởi kiện của chị A và cũng được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để hòa giải nhưng anh L vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản, ý kiến trả lời theo thông báo của Tòa án; Tòa án cũng đã Thông báo cho anh L biết về kết quả phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng anh cũng tiếp tục không có ý kiến, như vậy là anh L biết được việc chị A kiện yêu cầu xin ly hôn với anh nhưng anh L vẫn mặc nhận. Như vậy chứng tỏ anh L đã không còn tình cảm đối với chị A. Tại tờ tường trình của bà Lương Thị R là mẹ ruột chị A thì bà R xác định chị A và anh L thường hay mâu thuẫn cải vã do anh L không lo làm ăn, mà chỉ lo cờ bạc rồi thiếu nợ nần nhiều người, gia đình đã khuyên nhiều lần mà không được và đã trả nợ thay cho L để có cơ hội sữa chửa làm ăn nhưng L không sữa chửa và bỏ nhà đi từ năm 2017 cho đến nay. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị A và anh L là đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Tú A được ly hôn anh Trần văn L là phù hợp.

[3] Về con chung: Chị A và anh L có một con chung là Trần Nguyễn Như N, sinh ngày 25/9/2014, hiện đang sống với chị A. Chị A yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi ly thân nhau cho đến nay, cháu N hiện đang sống với chị A ổn định. Chị A cũng có điều kiện để nuôi dạy con tốt vì chị hiện là giáo viên. Thời gian ly thân anh L cũng không có thăm nom, chăm sóc con chung. Quá trình giải quyết vụ án anh L cũng không có tranh chấp gì về việc nuôi con chung và cũng không có yêu cầu nuôi con chung. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cho chị A nuôi con chung giữa chị và anh L là phù hợp, đảm bảo cuộc sống cho cháu N.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị A cũng không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị A xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí: Chị A phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo qui định tại Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

- Căn cứ điểm b khoản 2 điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

X:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Tú A được ly hôn với anh Trần văn L.

2. Về con chung:

- Giao cho chị Nguyễn Thị Tú A được tiếp tục nuôi một con chung giữa chị và anh Trần văn L là cháu Trần Nguyễn Như N, sinh ngày 25/9/2014. Anh Trần văn L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thị Tú A chưa có yêu cầu.

Anh Trần văn L có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền tranh cản.

3. Về án phí:

Chị Nguyễn Thị Tú A phải chịu 300.000đồng tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị A đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu số 19916 ngày 09/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, xem như chị A thi hành xong tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Chị A được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Anh L được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 58/2019/HNGĐ-ST ngày 28/10/2019 về tranh chấp xin ly hôn

Số hiệu:58/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Phước - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 28/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về