Bản án 58/2018/HS-ST ngày 29/05/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 58/2018/HS-ST NGÀY 29/05/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 29 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2018/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1992, tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký hô khẩu thường trú: tổ A, ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Trương Thị L; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: chưa; Bị tạm giữ từ ngày 17/02/2018 đến ngày 20/02/2018 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Ông Dương Xuân H, sinh năm 1975; địa chỉ: P, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Văn T; vắng mặt.

+ Bà Nguyễn Thị Thu L; vắng mặt.

+ Bà Trương Thị L; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 17/02/2018, Nguyễn Văn H đi bộ ngang qua nhà ông Dương Xuân H tại tổ A, ấp M, xã M, thành phố L thấy trước sân nhà, trong rào lưới B40 có dựng xe môtô nhãn hiệu Honda Wave alpha biển số 67B2 – 120.39 và chìa khóa còn ghim trong ổ khóa nhưng không người trông giữ. Lợi dụng sơ hở này, H đi ra phía sau nhà leo qua hàng rào lưới B40 vào sân nhà ông Dương Xuân H lấy trộm xe môtô biển số 67B2-120.39 và mở cửa rào dẫn xe ra ngoài, mở khóa công tắc điều khiển xe về nhà ở ấp M, xã M gặp mẹ ruột Trương Thị L hỏi xin 50.000 đồng. Sau đó, H điều khiển xe môtô biển số 67B2-120.39 đến bến phà Ô Môi thuộc xã M mua vé phà để sang bờ L thì bị lực lượng Công an xã M kiểm tra, phát hiện bắt giữ H cùng tang vật.

Kết luận về việc định giá tài sản số 11/KL.HĐ ngày 17/02/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L xác định, xe môtô nhãn hiệu Honda Wave 110 Alpha Việt Nam, biển số 67B2-120.39 trị giá 17.603.500 đồng.

Tại Cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 24 tháng 4 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, - Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ.

- Người làm chứng bà Trương Thị L cung cấp lời khai như đã khai trong giai đoạn điều tra.

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng xung quanh. Cho nên, đề nghị xử phạt nghiêm đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự, người bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên đề nghị không đề cập giải quyết. Về biện pháp tư pháp, đề nghị tịch thu, tiêu hủy quần, áo, dép thu giữ của bị cáo do không còn giá trị sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Long Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo, bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận, khoảng 20 giờ 30 ngày 17/02/2018, khi đi ngang qua nhà ông Dương Xuyên H, bị cáo thấy có 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave alpha biển số 67B2-120.39 được dựng trong sân, vẫn còn chìa khóa trên xe. Bị cáo trèo qua hàng rào lưới B40, mở cổng lấy xe mô tô rồi điều khiển về nhà. Sau khi xin bà Trương Thị L (mẹ bị cáo) 50.000 đồng, bị cáo điều khiển xe tìm nơi tiêu thụ. Khi đến Bến phà Trà Ôn, xã M, bị cáo bị Công an bắt giữ cùng xe mô tô chiếm đoạt được.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác gồm: Kết luận giám định số 198/KLGĐ-PC54 ngày 13/4/2018 cùng bản ảnh kèm theo thể hiện hình ảnh đối tượng nghi vấn chiếm đoạt xe mô tô của ông H trong khoảng thời gian từ 20 giờ 39 phút 43 giây đến 20 giờ 42 phút 37 giây ngày 17/02/2018; biên bản về việc thu hồi xe mô tô ngày 17/02/2018 do Công an xã M lập; biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 18/02/2018 cùng sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường kèm theo do Cơ quan điều tra Công an thành phố Long Xuyên lập; lời khai của ông Dương Xuân H về việc bị mất 01 xe mô tô biển số 67B2-120.39 vào khoảng 20 giờ 40 ngày 17/02/2018 khi ông H đậu xe trước sân nhà, không khóa; lời khai của ông Nguyễn Văn T về việc được ông H nhờ nên chở ông H tìm xe mô tô bị chiếm đoạt. Khi được thông tin, ông T chở ông H đến trụ sở Công an xã M thì gặp xe mô tô bị chiếm đoạt và bị cáo; lời khai của bà Nguyễn Thị Thu L (nhân viên bán vé qua phà Trà Ôn) về việc chứng kiến Công an giữ người thanh niên cùng xe mô tô hiệu Wave khi người thanh niên chờ xuống phà; lời khai của bà Trương Thị L về việc bị cáo xin và được bà Lệ cho 50.000 đồng vào khoảng 21 giờ ngày 17/02/2018 rồi bị cáo đi khỏi nhà nhưng không biết đi đâu.

Ngoài ra, lời khai của bị cáo còn phù hợp với vật chứng bị thu giữ là 01 xe mô tô biển số 67B2-120.39 bị chiếm đoạt và 01 quần, áo, dép được bị cáo mặc khi chiếm đoạt tài sản.

Từ các chứng cứ trên, có cơ sở xác định, khi phát hiện chủ sở hữu sơ hở trong việc bảo quản tài sản, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của ông H.

Theo kết luận định giá tài sản số 11/KL.HĐ ngày 17/02/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave 110 Alpha Việt Nam trị giá 17.603.500 đồng.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ông H là xâm phạm quyền sở hữu của người khác nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện thông qua việc lợi dụng ban đêm, tài sản không có người trông coi, nhanh chóng mang tài sản đi nơi khác tiêu thụ và sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa.

Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, quyền sở hữu là một trong những quyền thiêng liêng gắn với mỗi cá nhân, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Những ai xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, đáp ứng quy định của pháp luật hình sự sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt.

Bị cáo đang ở tuổi lao động, đáng lẽ, phải cố gắng lao động để tạo thu nhập chính đáng nuôi sống bản thân, gia đình nhưng vì hám lợi, bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu của ông H mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu thuộc và trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bên cạnh đó, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.

[5] Về hình phạt bổ sung, do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng, trong giai đoạn điều tra, xe mô tô biển số 67B2 – 120.39 bị chiếm đoạt đã được Cơ quan điều tra giao trả lại cho người bị hại là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên không đề cập xử lý lại.

Đối với 01 cái áo thun, 01 cái quần Jeans, 01 đôi dép, đây là các đồ vật được bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội nên có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội. Do các đồ vật này không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự, sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, ông Huy không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không xem xét, giải quyết.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo, bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạ t: Nguyễn Văn H: 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm giữ ngày 17/02/2018 (ngày mười bảy, tháng hai, năm hai nghìn không trăm mười tám).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu, tiêu hủy:

- 01 (một) cái áo thun màu đen, ngắn tay, có chữ adidas máu trắng ở ngực trái, đã qua sử dụng;

- 01 (một) cái quần jeans màu xanh, ống dài, bên trong lưng quần có chữ DOICE & GANANA, đã qua sử dụng.

- 01 (một) đôi dép quay kẹp, màu nâu, có chữ BITO, đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/5/2018 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Long Xuyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L).

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của ông Dương Xuân H là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


73
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 58/2018/HS-ST ngày 29/05/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:58/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Long Xuyên - An Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 29/05/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về