Bản án 58/2017/HSST ngày 26/10/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HOÁ

BẢN ÁN 58/2017/HSST NGÀY 26/10/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 26 tháng 10 năm 2017, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá. Tòa án nhân dân huyện Hà Trung xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2017/HSST, ngày 06 tháng 10 năm 2017 đối với các bị cáo:

1. Lê Văn P, sinh năm 1987; Tại: TH, TH, Thanh Hóa; Nơi ĐKHK thường trú và chỗ ở: Thôn LH, xã TH, huyện TH, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Con ông Lê Văn Toán(Đã chết) và bà Đào Thị Én; Vợ: Trịnh Thị Nga; Con: 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2017; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 29/7/2017 đến ngày 03/8/2017 chuyển tạm giam cho đến nay.

Có mặt tại phiên tòa.

2. Phạm Văn T, sinh năm 1987; Tại: TH, TH, Thanh Hóa; Nơi ĐKHK thường trú và chỗ ở: Thôn LH, xã TH, huyện TH, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Con ông Phạm Văn Tự và bà Trịnh Thị Cương; Vợ: Lương Thị Đào; Con: 01 con sinh năm 2014; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 29/7/2017 đến ngày 03/8/2017 chuyển tạm giam cho đến nay.

Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Văn T1, sinh năm 1991

Trú tại: Thôn LH, xã TH, huyện TH, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Do cần ma túy để sử dụng nên khoảng 9 giờ 40 phút ngày 29/7/2017 Lê Văn P rủ T ở cùng thôn LH, xã TH, huyện TH đi xuống huyện Hà Trung mua ma túy về sử dụng, thì Thành đồng ý. Thành đến nhà em trai mượn xe mô tô để trở P đi mua ma túy. Lê Văn P về nhà lấy xe mô tô của mình đi thế chấp được 1.700.000đ, sau đó Thành đi xe mô tô đến thị trấn Kim Tân trở P đi xuống Hà Trung. Thành và P đi quốc lộ 217 đến quốc lộ 1A đi đến nhà máy thuốc lá thì sang đường rẽ vào ngõ nhỏ, đi được khoảng 200m thì gặp một thanh niên khoảng 27 tuổi, người này hỏi P mua bao nhiêu, P nói 1.700.000đ. Người thanh niên đi vào ngõ nhỏ gần đó, một lúc sau đi ra đưa cho P một túi nilon màu trắng viền xanh, bên trong có ma túy. P bỏ túi ma túy vào áo khoác bên phải và ngồi lên xe Thành điều khiển theo đường cũ về. Đến đầu đường 217 Thành dừng xe trước hiệu thuốc tây để mua kim tiêm.

Lúc này khoảng 11 giờ 45 phút, tổ công tác phòng chống tội phạm về ma túy Công an huyện Hà Trung phối hợp với công an xã Hà Phong tuần tra thấy Lê Văn P và T đứng trước cửa hiệu thuốc tây có biểu hiện cất dấu ma túy trong người, tổ công tác tiến hành kiểm tra P và Thành, thu giữ trong túi áo khoác của P một túi ni long chứa chất bột màu trắng, tại chỗ P và Thành khai nhận là Hêrôin vừa mua. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong số tang vật vừa thu giữ. Tại kết luận giám định số 1756/MT-PC54 ngày 31/7/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận chất bột thu giữ của P là ma túy, có trọng lượng 1,869g(Một phẩy tám sáu chín gam) loại Hêrôin.

Tại bản cáo trạng số 58/CTr-VKS ngày 05/10/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Lê Văn P và T về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo 1 điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên toà, đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1, Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 BLHS năm 1999.

Khoản 3 Điều 7; khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội đối với cả hai bị cáo. Xử phạt Lê Văn P từ 24 đến 27 tháng tù, xử phạt T từ 21 đến 24 tháng tù, không phạt tiền bổ sung các bị cáo; Đề nghị áp dụng điều 41 BLHS, khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất ma túy là Hêrôin là mẫu vật còn lại sau giám định.

Chiếc xe mô tô YAMAHA biển số 36E1-155.74 Thành mượn của em trai là Phạm Văn T1, anh Tân không biết Thành mượn đi mua ma túy nên Công an huyện Hà Trung đã trả lại cho Phạm Văn T1.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

XÉT THẤY

Tại phiên toà Lê Văn P và Phạm Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời trình bày của bị cáo phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, với vật chứng đã thu giữ được và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 11 giờ 45 phút ngày 29/7/2017 tại Quốc lộ 217 địa phận Thôn Trang Cát, xã Hà Phong, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, Lê Văn P và T đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,869g(Một phẩy tám sáu chín gam) loại Hêrôin với mục đích để sử dụng, bị bắt quả tang cùng tang vật.

Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Theo khoản 3 điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 thì những tình tiết có lợi cho người phạm tội được áp dụng trước khi Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 quy định “Người nào tàng trữ vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm” nhưng tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “ Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

a..., b...,c Hê rooin, coocain,... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam. Do khi quyết định hình phạt cần thiết phải áp dụng điểm h, khoản 2, Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc áp dụng khoản 3 Điều 7 và điều khoản có lợi của BLHS năm 2015 đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Xuất phát từ việc bản thân các bị cáo là người nghiện ma túy nên đã mua ma túy về cất giữ trong người để sử dụng thì phát hiện và bắt quả tang; đây là vụ án đồng phạm có tính giản đơn trong đó Lê Văn P là người có vai trò chính trong vụ án, P là người khởi xướng việc đi mua ma túy, dùng tiền của mình và là người trực tiếp mua ma túy. T là cùng đi mua ma túy, mượn xe trở P đi mua ma túy về mục đích cùng sử dụng, nên trong vụ án này Lê Văn P phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn so với T.

Các bị cáo phạm vào tội nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, tội mà toàn xã hội lên án mạnh mẽ và kiên quyết đấu tranh để ngăn chặn, đẩy lùi bởi tác hại của nó đối với giống nòi, đối với trật tự an toàn xã hội, với cuộc sống bình yên của chính gia đình bị cáo. Tệ nạn ma túy làm ảnh hưởng lớn đến các chính sách phát

triển kinh tế của nhà nước, việc đấu tranh với tội phạm ma túy hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Nhà nước đang có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Bản thân các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, Tại phiên tòa bị cáo P thừa nhận đã nghiện ma túy liên tục 02 năm, bị cáo Thành nghiện ma túy một năm trở lại đây; do đó cần xử lý nghiêm, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội để bị cáo có thời gian rèn luyện, cải tạo thành người có ích cho xã hội, đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Thời gian các bị cáo bị tạm giữ, tạm giam được tính vào thời gian chấp hành hình phạt.

Về xử lý vật chứng: Toàn bộ chất ma túy còn lại là mẫu vật sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Chiếc xe mô tô YAMAHA biển số 36E1-155.74 Thành mượn của em trai là Phạm Văn T1, anh Tân không biết Thành mượn đi mua ma túy nên Công an huyện Hà Trung đã trả lại cho anh Tân là phù hợp.

Về nguồn gốc số ma túy bị cáo khai mua của người thanh niên khoảng 27 tuổi không quen biết ở ngõ nhỏ cạnh nhà máy thuốc lá, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không xác định được danh tính, địa chỉ của người này nên không có cơ sở điều tra mở rộng vụ án.

Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn P và T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1, Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33; Điều 53 BLHS năm 1999. Khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1, Điều 249 BLHS năm 2015; điểm h, khoản 2, Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội đối với cả hai bị cáo.

Xử phạt: Lê Văn P 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ (Ngày 29/7/2017).

Xử phạt: Phạm Văn T 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ (Ngày 29/7/2017).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 41 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 76 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật còn lại sau giám định (Theo biên bản giao nhận mẫu vật sau giám định giữa Cơ quan cảnh sát điều tra huyện hà Trung và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung ngày 17/10/2017).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 99 BLTTHS; Điều 6, khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Lê Văn P và T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án, anh Phạm Văn T1 có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


48
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về