Bản án 57/2019/DS-ST ngày 26/12/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂNHUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 57/2019/DS-ST NGÀY 26/12/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 26 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2019/TLST-DS ngày 30 tháng 01 năm 2019 về "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69A/2019/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 11 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 71A ngày 11/12/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn T.

Đa chỉ: Số A, đường N, phường S, quận T, TP. Hồ Chí Minh.;

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Võ Kế V, chức vụ: Phó Trưởng phòng kiểm soát rủi ro của Ngân hàng TMCP Sài Gòn T - Chi nhánh Đ, tỉnh Đắk Nông là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền số 236/2019/GUQ-ĐNO ngày 09/9/2019 của Giám đốc Chi nhánh Đ).

Đa chỉ: Số 33, dường H, phường N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông - Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Bà Trần Thị H; sinh năm 1981; vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 04 tháng 01 năm 2019 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông Võ Kế V người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Bà Trần Thị H có vay vốn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn T – Chi nhánh Đ tại hợp đồng cấp tín dụng số LD 1724800430 ngày 05/9/2017 và Hợp đồng cho vay số LD 172 4800432 ngày 06/9/2017 với tổng số tiền vay: 270.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi triệu đồng; thời hạn vay: 36 tháng; phân kỳ trả nợ là 03 kỳ, kỳ đầu trả 60.000.000 đồng vào ngày 06/9/2018, kỳ hai trả 60.000.000 đồng vào ngày 06/9/2019 và kỳ cuối trả số còn lại vào ngày 06/9/2020; lãi suất 03 tháng đầu tiên 11%, tại thời điểm bắt đầu tháng thứ 4, kể từ ngày nhận nợ, lãi suất toàn bộ dư nợ vay được Ngân hàng điều chỉnh bằng lãi suất huy động tiết kiệm 13 tháng lãnh lãi cuối kỳ + biên độ 3,5%/ năm nhưng không thấp hơn lãi suất cho vay ban đầu, được điều chỉnh 03 tháng 01 lần. Đến thời hạn lần thứ nhất bà H không trả gốc và lãi như đã thỏa thuận. Ngân hàng đã đốn đốc nhiều lần nhưng cố tình không thực hiện còn trốn tránh.

Biện pháp bảo đảm cho khoản vay: Bà Trần Thị H đã thế chấp tài sản theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 500/17/TC ngày 06/9/2017, được công chứng ngày 06/9/2017 tại Văn Phòng công chứng Lê Anh T và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Đ ngày 06/09/2017 theo quy định của pháp luật gồm tài sản hợp pháp sau đây:

Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CE045239 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 02/3/2017 cho bà Trần Thị H.

Đến thời điểm trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết trên nhưng bà Trần Thị H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Qua nhiều lần thông báo, nhắc nhở nhưng bà H vẫn không có thiện chí trả nợ, cố tình vi phạm các điều khoản trong hợp đồng tín dụng đã ký kết. Vì vậy, ngày 16/9/2018 Ngân hàng TMCP Sài Gòn T – Chi nhánh Đ đã chuyển toàn bộ số nợ vay sang nợ quá hạn và ngày 20/12/2018 Ngân hàng ra Thông báo về việc chấm dứt hợp đồng tín dụng và thu hồi nợ quá hạn.

Để đảm bảo việc thu hồi nợ Ngân hàng TMCP Sài Gòn T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trần Thị H phải trả toàn bộ số nợ gồm nợ gốc là 270.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi triệu đồng) tiền gốc và tiền lãi của số tiền gốc trên tính đến ngày xét xử (ngày 26/12/2019) là 69.978.082 đồng (Sáu mươi chín triệu chín trăm bảy mươi tám nghìn không trăm tám mươi hai đồng) tiền lãi phạt chậm trả vốn là 5.500.192 đồng, tiền lãi phạt chậm trả lãi 4.624.641 đồng; tổng cộng cả gốc và lãi là 350.102.915 đồng.

Bị đơn bà Trần Thị H: Qúa trình giải quyết vụ án, thấy việc niêm yết không đảm bảo nên Tòa án đã tiến hành nhắn tin trên báo công lý 03 số liên tiếp theo quy định, hết thời hạn chị H không về Tòa án giải quyết, nên Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án đối với bị đơn. Tuy nhiên, bị đơn không có mặt theo các văn bản tố tụng mà Tòa án niêm yết, nhắn tin. Vì vậy, Tòa án không tiến hành lấy lời khai, công khai chứng cứ và hòa giải được vụ án nên quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký từ khi thụ lý giải quyết vụ án đến khi Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Bị đơn bà Trần Thị H vắng mặt từ khi thụ lý đến khi xét xử đã được Tòa án tiến hành niêm yết các thủ tục tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn chấp hành tốt, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật.

-Về nội dung: Căn cứ Điều 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010.

Các Điều 298, Điều 299, Điều 317, Điều 318, 319, Điều 323 Bộ luật dân sự; đề nghị: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bà Trần Thị H trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn T số tiền gốc 270.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 26/12/2019 là 69.978.082 đồng, tiền lãi phạt chậm trả vốn là 5.500.192 đồng, tiền lãi phạt chậm trả lãi 4.624.641 đồng.

Bà Trần Thị H tiếp tục chịu lãi suất theo hợp đồng cấp tín dụng số LD 1724800430 ngày 05/9/2017 và Hợp đồng cho vay số LD 172 4800432 ngày 06/9/2017 như đã thỏa thuận trong hợp đồng đối với số tiền gốc chưa thi hành kể từ ngày 27/12/2019 cho đến khi thanh toán hết nợ.

Về các vấn đề khác đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật. Ý kiến khắc phục khác: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

I.Về tố tụng:

[1]Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Ngân hàng TMCP Sài Gòn T khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị H trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn T số tiền gốc 270.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 26/12/2019 là 69.978.082 đồng, tiền lãi phạt chậm trả vốn là 5.500.192 đồng, tiền lãi phạt chậm trả lãi 4.624.641 đồng. Hiện nay, bà H có đăng ký hộ khẩu thường trú và tài sản tại thôn Thôn B, xã N, huyện Đ. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định khoản 1 Điều 26 và thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông theo điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ Luật tố tụng dân sự.

[2] Về chấp hành pháp luật của bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tống đạt hợp lệ đúng theo quy định tại Điều 173, Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. Qua xác minh tại địa phương nơi bà H cư trú xác định, có Hộ khẩu và sinh sống tại địa phương nhưng đi làm ăn đâu không rõ, thỉnh thoảng mới về. Vì vậy, để có căn cứ giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành niêm yết các thủ tục tố tụng, nhắn tin trên 03 số báo liên tục trên báo Công Lý theo quy định của pháp luật nhưng bà H không có mặt tại Tòa án làm việc như thông báo. Vì vậy, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc bị đơn không chấp hành pháp luật được coi tự ý từ bỏ quyền được tham gia tố tụng, quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình quy định tại Điều 6, Điều 70, Điều 72 của BLTTDS.

[3] Xét nội dung tranh chấp:

Căn cứ hợp đồng cấp tín dụng số LD 1724800430 ngày 05/9/2017 và Hợp đồng cho vay số LD 172 4800432 ngày 06/9/2017, tính đến ngày xét xử bà Trần Thị H còn nợ Ngân hàng TMCP Sài Gòn T số tiền gốc 270.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 26/12/2019 là 69.978.082 đồng, tiền lãi phạt chậm trả vốn là 5.500.192 đồng, tiền lãi phạt chậm trả lãi 4.624.641 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 350.102.915 đồng (Ba trăm năm mươi triệu một trăm linh hai nghìn chín trăm mười lăm đồng). Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có căn cứ nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện (có bảng tính lãi cụ thể nộp cho Tòa án đến ngày xét xử).

Xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 500/17/TC ngày 06/9/2017 bà Trần Thị H đã dùng tài sản của mình là quyền sử dụng đất để bảo lãnh nhằm bảo đảm cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng đã được lập thành văn bản, được đăng ký thế chấp theo quy định. Trường hợp đến hạn mà không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì có quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Qua xem xét thẩm định tại chỗ đo đạc thực tế thì tài sản thế chấp trên có diện tích đúng với diện tích bà H được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và là tài sản đứng tên bà H đã thế chấp, theo quy định tại Điều 317, Điều 318, Điều 323 Bộ luật dân sự.

Trường hợp sau khi bản án có hiệu lực pháp luật mà bà Trần Thị H không trả nợ nợ cho Ngân hàng theo quy định thì Ngân hàng TMCP Sài Gòn T có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

[5] Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và đúng pháp luật nên được chấp nhận.

[6] Về chi phí tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 157, Điều 169 BLTTDS: Chi phí nhắn tin trên ba số báo Công lý liên tiếp là 1.500.000 đồng và Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 2.900.000 đồng. Tổng cộng là 4.400.000 đồng. Ngân hàng TMCP Sài Gòn T đã nộp tạm ứng toàn bộ số tiền trên, bà Trần Thị H phải chịu toàn bộ số tiền trên nên cần buộc bà H phải hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn T số tiền 4.400.000 đồng.

[7] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch của 350.102.915 đồng x 5% = 17.505.000 đồng (Làm tròn).

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 70, Điều 72, Điều 147, Điều 157, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Các Điều 298, Điều 299, Điều 317, Điều 318, 319, Điều 323 Bộ luật dân sự;

Tuyên xử:

1. Chp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn T.

Buc bà Trần Thị H phải trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn T tổng số tiền cả gốc và lãi là 350.102.915 đồng (Ba trăm năm mươi triệu một trăm linh hai nghìn chín trăm mười lăm đồng), trong đó 270.000.000 đồng (Hai trăm bảy mươi triệu đồng) tiền gốc và tiền lãi là 69.978.082 đồng (Sáu mươi chín triệu, chín trăm bảy mươi tám nghìn không trăm tám mươi hai đồng), tiền lãi phạt chậm trả vốn là 5.500.192 đồng, tiền lãi phạt chậm trả lãi 4.624.641 đồng, thời hạn tính tiền lãi tính đến ngày 26/12/2019).

Kể từ ngày 27/12/2019, bà Trần Thị H tiếp tục phải chịu lãi suất phát sinh theo thỏa thuận như hai bên ký kết theo hợp đồng cấp tín dụng số LD 1724800430 ngày 05/9/2017 và Hợp đồng cho vay số LD 172 4800432 ngày 06/9/2017, tương ứng với thời gian và số tiền gốc chậm trả cho đến khi thi hành án xong.

Trường hợp bà Trần Thị H không trả được nợ cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn T thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 500/17/TC ngày 06/9/2017 để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Các tài sản bảo đảm để xử lý và thu hồi nợ tại hợp đồng thế chấp trên là quyền sử dụngđất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CE045239 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 02/3/2017 cho bà Trần Thị H.

2. Về chi phí tố tụng khác: Căn cứ khoản 1 Điều 157, Điều 169 BLTTDS: Chi phí nhắn tin và Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 4.400.000 đồng. Buộc bà Trần Thị H phải hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn T số tiền chi phí nhắn tin và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 4.400.000 đồng (Bồn triệu bốn trăm nghìn đồng).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bà Trần Thị H phải nộp 17.505.000 đồng (Mười bảy triệu năm trăm linh năm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn T số tiền 7.862.000 đồng (Bảy triệu tám trăm sáu mươi hai nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004728 ngày 30/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trưng hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


45
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 57/2019/DS-ST ngày 26/12/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:57/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đắk Song - Đăk Nông
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 26/12/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về