Bản án 56/2020/HS-ST ngày 30/11/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 56/2020/HS-ST NGÀY 30/11/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 30/11/2020, tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 52/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

NGUYỄN NGỌC D, tên gọi khác: Không, sinh ngày 13/5/1983, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: TDP A, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1960 và Lê Thị N, sinh năm 1964; Vợ Trần Thị Vân A, sinh năm 1984, (đã ly hôn); bị cáo có 02 con; con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không:

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/9/2020, hiện đang tại ngoại tại TDPA, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt tại phiên tòa.

-Luật sư bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Đình B- Luật sư thuộc VPLS Đ-Đoàn Luật sư tỉnh Đắk Lắk; Địa chỉ: A Hùng v, phường T, thị xã B, Đắk Lắk, có mặt.

-Bị hại: Lâm Hồng H, sinh năm: 1973; Trú tại: Tổ dân phố M, phường An L, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Y R M Adrơng, sinh năm: 1987; Trú tại: Thôn s, xã Ea H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

2. Lê Tiến Q, sinh năm 1966; Trú tại: Tổ dân phố x, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

3. Nguyễn Tấn L, sinh năm 1960; Trú tại: Tổ dân phố s, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

4. Đinh Văn C, sinh năm: 1984.

Trú tại: Tổ dân phố N, phường An B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.

- Người làm chứng:

- Y B H Niê Kdăm, sinh năm 1989; Trú tại: Buôn W, thị trấn K, huyện Krông N, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1983, trú tại: Tổ dân phố A, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk thường đi làm rẫy ngang qua nhà hàng King Palace của anh Lâm Đình H, sinh năm 1973, trú tại: TDP M, phường A, thị xã B thì phát hiện bên lề đường Ngô Đức K, trước nhà hàng anh H có để 03 trụ điện, trong đó: 02 trụ cao 8,4m được đúc chung trong một đế bê tông và 01 trụ cao 6,9m, không có người trông coi nên D nảy sinh ý định trộm cắp mang về dựng làm chòi ở tại vườn nhà mình. Ngày 28/7/2020 D gọi điện thoại cho ông Lê Tiến Q, sinh năm 1966, trú tại: TDP M, phường A, thị xã B để thuê xe ô tô tải có cần cẩu chở các trụ điện trên về vườn của mình tại TDP S, phường T, thị xã B (do trước đó D làm ở công ty điện lực B đã nhiều lần thuê xe ô tô cần cẩu của ông Q chở tru điện) nên ông Q không nghi ngờ gì mà đồng ý ngay. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, anh R M Adrơng, sinh năm 1987, trú tại: Thôn s, xã Ea H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, là lái thuê cho ông Q đã liên lạc với D và theo sự chỉ dẫn của D đến trước nhà hàng K, cẩu chở 03 trụ điện về vườn nhà D. Tuy nhiên, khi chở được 03 trụ điện về vườn do đường vào nhỏ xe ô tô cẩu lớn không đi được, nên D nói anh R M Adrơng cẩu các trụ điện để xuống đường cách vườn khoản 20m. Rồi D lấy máy cắt bê tông cắt 02 trụ điện được đúc chung vào một đế bê tông rời ra khỏi đế. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 30/7/2020, D điện thoại cho anh Hà Văn L, sinh năm 1982, trú tại thị trấn K, huyện Krông N, tỉnh Đắk Lắk, để thuê xe tải cẩu loại nhỏ đến dựng 03 trụ điện đã trộm cắp trên với giá 1.200.000đ được anh L đồng ý, sau đó anh L kêu anh Y B H Niê Kdăm, sinh năm 1988 là lái xe thuê cho mình điều khiển xe tải đến dựng các trụ điện cho D tại vườn. Ngày 03/8/2020, anh Lâm Hông H phát hiện bị mất 03 trụ điện nên làm đơn tố cáo đến Công an thị xã Buôn Hồ. Sau đó, hành vi của Nguyễn Ngọc D bị phát hiện. Tại Cơ quan điều tra Công an thị xã Buôn Hồ, đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 27/HĐĐG ngày 10/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thị xã Buôn Hồ kết luận:

+ 01 (một) trụ bê tông bị cắt gốc (loại trụ điện, không rõ mã số) cao 6,9m:

đường kính gốc 0,24m, đường kính ngọn 0,16m, có giá trị 1.620.000 đồng.

+ 02 (hai) trụ bê tô (loại trụ điện, cùng số hiệu 504-PC 8.5-4.3), được gắn liền trên 01 khối bê tông, kích thước (153 x 65 x 40)cm, tầng 02 có kích thước (100 x 65 x 60)cm, có giá trị 4.480.000 đồng. Tổng giá trị tài sản D chiếm đoạt 6.100.000đ.

Bản cáo trạng số 54/CT-VKSBH ngày 10/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc D về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 28/7/2020, tại đường Ngô Đức K trước nhà hàng King Place ở TDP M, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Nguyễn Ngọc D có hành vi lén lút, bí mật trộm cắp 03 trụ điện của anh Lâm Hồng H có trị giá 6.100.000 đồng. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ các điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc D 09 (Chín) đến 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (Mười tám) đến 24 (Hai mươi bốn) tháng.

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Buôn Hồ đã trả lại 01 trụ điện hình nón cụt, chiều cao 7,55m, đường kính đáy lớn 26cm, đường kính đáy nhỏ 16cm; 01 trụ điện hình nón cụt, chiều cao 7,6m, đường kính đáy lớn 26cm, đường kính đáy nhỏ 16cm; 01 trụ điện hình nón cụt, chiều cao 6,9m, đường kính đáy lớn 24cm, đường kính đáy nhỏ 16cm và 01 khối bê tông kích thước (153 x65 x 110)cm cho anh Lâm Hồng H là chủ sở hữu.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 3.500.000 đồng để khắc phục hậu quả cho bị hại anh Lâm Hồng H, anh H không yêu cầu gì thêm về dân sự và có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

-Luật sư bào chữa cho bị cáo ông Nguyễn Đình B trình bày: Về tội danh và hình phạt cho hưởng án treo thì luật sư không có ý kiến gì, tuy về mức hình phạt từ 09 đến 12 tháng có phần hơi nghiêm khắc bởi bị cáo có tới 05 tình tiết giảm nhẹ hình phạt như Viện kiểm sát đề nghị. Vì vậy đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ thêm cho bị cáo.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, trong phần lời nói sau cùng bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Buôn Hồ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp đúng quy định của pháp luật.

[2] Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 28/7/2020, tại đường Ngô Đức K trước nhà hàng King Place ở TDP M, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Nguyễn Ngọc D có hành vi lén lút, bí mật trộm cắp 03 trụ điện của anh Lâm Hồng H có trị giá 6.100.000 đồng. Hành vi của bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc trong các trường hợp sau đây, thị bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:”

[3] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần xử lý nghiêm minh, áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Tuy nhiên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần cho bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát của gia đình và xã hội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo tự nguyện đã bồi thường thiệt khắc phục hậu quả hại cho bị hại; phạm tội gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; được bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Nên xét mức hình phạt mà đại diện viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có phần hơi cao so với quy định của pháp luật, HĐXX xét thấy cần giảm thêm cho bị cáo.

[5] Đối với ông Lê Tiến Q và anh Hà Văn L là người đã cho bị cáo D thuê xe ô tô cẩu chở 03 trụ điện. Tuy nhiên, ông Q, anh L không biết bị cáo D thuê xe để thực hiện hành vi phạm tội, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Buôn Hồ không xử lý ông Q và anh L là có căn cứ.

Quá trình điều tra ông Q khai chở thuê 03 trụ điện trên cho D với giá tiền công 600.000đ nhưng D chưa trả cho ông Q và ông Q cũng không yêu cầu D phải trả số tiền này nên không đặt ra để giải quyết.

[6] Các biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Buôn Hồ đã trả lại 01 trụ điện hình nón cụt, chiều cao 7,55m, đường kính đáy lớn 26cm, đường kính đáy nhỏ 16cm; 01 trụ điện hình nón cụt, chiều cao 7,6m, đường kính đáy lớn 26cm, đường kính đáy nhỏ 16cm; 01 trụ điện hình nón cụt, chiều cao 6,9m, đường kính đáy lớn 24cm, đường kính đáy nhỏ 16cm và 01 khối bê tông kích thước (153 x65 x 110)cm cho anh Lâm Hồng H là chủ sở hữu.

[7]Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 3.500.000 đồng để khắc phục hậu quả cho bị hại anh Lâm Hồng H, anh H không yêu cầu gì thêm về dân sự và có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội “Trộm cắp tài sản” Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc D 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Ngọc D cho Ủy ban nhân dân phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Buôn Hồ đã trả lại 01 trụ điện hình nón cụt, chiều cao 7,55m, đường kính đáy lớn 26cm, đường kính đáy nhỏ 16cm; 01 trụ điện hình nón cụt, chiều cao 7,6m, đường kính đáy lớn 26cm, đường kính đáy nhỏ 16cm; 01 trụ điện hình nón cụt, chiều cao 6,9m, đường kính đáy lớn 24cm, đường kính đáy nhỏ 16cm và 01 khối bê tông kích thước (153 x65 x 110)cm cho anh Lâm Hồng H là chủ sở hữu.

[8]Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 3.500.000 đồng để khắc phục hậu quả cho bị hại anh Lâm Hồng H, anh H không yêu cầu gì thêm về dân sự và có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo Nguyễn Ngọc D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.


26
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 56/2020/HS-ST ngày 30/11/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:56/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Buôn Hồ - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/11/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về