Bản án 55/2020/HNGĐ-ST ngày 01/06/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 55/2020/HNGĐ-ST NGÀY 01/06/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Trong ngày 01/6/2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 535/2019/TLST-HNGĐ, ngày 03/12/2019 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2020/QĐST-HNGĐ, ngày 20/4/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Mỹ L , sinh năm 1994 (Có mặt)

Địa chỉ: 175/16 ấp AT, xã PĐ, huyện Long Hồ, Vĩnh Long

Chổ ở hiện nay: Số nhà 279, ấp AH1, xã MA, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: Anh Diệp Thanh N, sinh năm 1990 (Vắng mặt)

Địa chỉ: 175/16 ấp AT, xã PĐ, huyện Long Hồ, Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Trong đơn khởi kiện ngày 01/10/2019 và biên bản hòa giải ngày 06/03/2020 nguyên đơn chị Võ Thị Mỹ L trình bày: Vào năm 2012 qua quen biết tìm hiểu nhau, chị L và anh Diệp Thanh N đã tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo tập quán, có đăng ký kết hôn vào ngày 17/4/2012 tại UBND xã PĐ, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian sau ngày cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau đến năm 2016 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau, bản thân chị đã nhiều lần khuyên ngăn anh N để cùng nhau khắc phục mâu thuẫn vợ chồng nhưng vẫn không được. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Nam không còn nữa, do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị và anh N đã sống ly thân từ năm 2018, hiện tại chị đã trở về ở cùng cha mẹ ruột ở xã MA, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Diệp Thanh N.

Về con chung: Có 02 con chung tên Diệp Võ Thanh Q, sinh ngày 05/9/2010 và Diệp Võ Thanh L, sinh ngày 21/4/2018. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Diệp Võ Thanh L, đồng thời chị đồng ý giao cháu Diệp Võ Thanh Q cho anh N được nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con lẫn nhau.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Trong biên bản hòa giải ngày 06/03/2020 và quá trình giải quyết vụ án, anh Diệp Thanh N trình bày:

Anh Nam thừa nhận sau khi kết hôn, vợ chồng sống rất hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến không thể hòa giải được, nên từ đó chị L trở về sống chung với gia đình tại xã MA, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long cho đến nay. Qua yêu cầu xin ly hôn của chị L thì anh không đồng ý.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Diệp Võ Thanh Q, sinh ngày 05/9/2010 và Diệp Võ Thanh L, sinh ngày 21/4/2018. Trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L, anh yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Diệp Võ Thanh Q, anh đồng ý giao cháu Diệp Võ Thanh L cho chị L được nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con lẫn nhau. Tại bản khai ngày 06/03/2020, cháu Diệp Võ Thanh Q trình bày: “Qua yêu cầu ly hôn của cha mẹ con, con có ý kiến là được sống với cha”.

- Tại phiên tòa, chị Võ Thị Mỹ L vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với anh Diệp Thanh N, khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Diệp Võ Thanh L, đồng thời chị đồng ý giao cháu Diệp Võ Thanh Q cho anh N được nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con lẫn nhau. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Diệp Thanh N vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục:

Anh Diệp Thanh N được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với anh N theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

[1]. Xét về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh N tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo tập quán và có đăng ký kết hôn tại UBND xã PĐ, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long ngày 17/4/2012. Do đó, quan hệ hôn nhân là hợp pháp và được pháp luật công nhận.

Chị L và anh N đều thừa nhận trong quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, do thường xuyên cự cãi, bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng chưa được giải quyết dứt điểm. Hiện tại thì vợ chồng không còn chung sống với nhau, đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay, từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân của chị L và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu của chị L được ly hôn với anh N là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên được chấp nhận.

[2]. Về con chung: Xét yêu cầu của chị Võ Thị Mỹ L được tiếp tục nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Diệp Võ Thanh L, sinh ngày 21/4/2018, hiện tại chị đang nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, chị L hiện tại có nghề nghiệp ổn định đủ điều kiện để nuôi con. Hơn nữa cháu L dưới 36 tháng tuổi, nên tiếp tục giao cho chị L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Chị L không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con, nên không đặt ra giải quyết.

Ghi nhận sự thỏa thuận giữa Chị L và anh N là giao cháu Diệp Võ Thanh Q, sinh ngày 05/9/2010 cho anh N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của cháu Q là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình; anh N không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[3]. Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Chị L và anh N đều khai không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[4]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị Mỹ L được ly hôn với anh Diệp Thanh N.

[2]. Về con chung: Giao cháu Diệp Võ Thanh L, sinh ngày 21/4/2018 cho chị Võ Thị Mỹ L nuôi dưỡng và giáo dục; giao cháu Diệp Võ Thanh Q, sinh ngày 05/9/2010 cho anh Diệp Thanh N nuôi dưỡng và giáo dục. Chị Võ Thị Mỹ L và Anh Diệp Thanh N không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[3]. Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Chị Võ Thị Mỹ L và Anh Diệp Thanh N đều khai không yêu cầu giải quyết, nên không đặt ra xem xét giải quyết. [4]. Về án phí: Chị Võ Thị Mỹ L phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005350 ngày 03/12/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, nên chị L không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án niêm yết tại nơi cư trú.


9
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 55/2020/HNGĐ-ST ngày 01/06/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:55/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Hồ - Vĩnh Long
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:01/06/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về