Bản án 55/2019/HS-ST ngày 28/05/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 55/2019/HS-ST NGÀY 28/05/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 28 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 45/2019/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

NGUYỄN MẠNH H, sinh ngày 14 tháng 02 năm 1984 tại Ninh Bình; Nơi đăng ký thường trú: Số 18 phố Phúc H, đường Trương Hán S, phường A, thành phố B, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Bá B và bà Mai Thị T; có vợ: Nguyễn Khuyến H và 01 con: sinh năm 2014; nhân thân: Ngày 04/7/2012 Phòng PC45 Công an tỉnh Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng (Quyết định số 62/QĐ-XPHC), đóng phạt ngày 12/7/2012; Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 14/8/2015, hủy bỏ biện pháp tạm giam: ngày 22/4/2016, bị bắt tạm giữ lại ngày 22/01/2019, thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 31/01/2019, Bị cáo tại ngoại.

(Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 13/08/2015, Đội 2 Phòng PC45 Công an Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện bắt quả tang tại địa chỉ số 842 đường Trường C, Phường C, quận D các đối tượng Huỳnh Trinh T, Lê Hoàng P, Lâm Thành T, Nguyễn Lâm Thế T, Lê Thanh M, Nguyễn Duy Đ, Lưu Hoàng T đã tổ chức cho các con bạc Đặng Hoài A, Bùi Thanh P, Nguyễn Minh P, Trương Hồng Đ, Huỳnh Tuấn A, Đặng Thị Minh P, Lê Thanh T, Nguyễn Hà L, Diệp Cẩm T, Nguyễn Mạnh H, Trần Văn T, Nguyễn Ngọc T, Triệu Tấn P, Nguyễn Duy T đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức chơi lắc “Tài, Xỉu”. Công an đã lập biên bản thu giữ tại chiếu bạc số tiền 52.550.000 đồng cùng vật chứng và tạm giữ tất cả các đối tượng nêu trên.

Ngoài ra PC45 Công an thành phố Hồ Chí Minh còn giữ 06 đối tượng có mặt tại sòng bạc gồm: Nguyễn Long H, Lê Văn Đ, Nguyễn Thị N, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn K, Lu Tuấn D cùng 03 nhân viên phục vụ tại sòng bạc là Lê Thoại L, Võ Thị H, Cao Thị Cẩm X, chuyển giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình xử lý theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, xác định được: Huỳnh Trinh T đứng ra tổ chức đánh bạc bằng hình thức lắc tài xỉu ăn tiền để hưởng lợi, giúp sức cho việc tổ chức đánh bạc của T có Lê Hoàng P, Lâm Thành T, Nguyễn Lâm Thế T, Lê Thanh M và Nguyễn Duy Đ.

Tại thời điểm bị bắt quả tang ngày 13/8/2015, T đang tổ chức cho 14 đối tượng đang đánh bạc. Trong đó Nguyễn Mạnh H được xác định tham gia đánh bạc như sau: ngày 13/8/2018, H mang theo 1.500.000 đồng đến đánh bạc, tại đây Hu tham gia đánh bạc 03 ván mỗi ván đặt 500.000 đồng, nhưng 02 ván đầu thua, ván thứ 3 chưa kết thúc thì bị công an kiểm tra bắt giữ. Khi Công an đến kiểm tra, tiền trên chiếu bạc của H đang đặt là 500.000 đồng. Tổng cộng số tiền H phải chịu trách nhiệm hình sự là 40.500.000 đồng.

Vụ án đã được Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm ngày 22/4/2016 (Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2016/HSST)

Ngày 16/9/2016, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm, tuyên hủy Bản án sơ thẩm số 121/2016/ HSST ngày 22/4/2016 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình để điều tra, truy tố, xét xử lại theo thủ tục chung (Bản án hình sự số 564/2016/HSPT)

Kết quả điều tra lại thể hiện các bị can đều thừa nhận hành vi phạm tội.

Đối với Lưu Hoàng T, trong giai đoạn điều tra lại, không triệu tập được nên Cơ quan điều tra ra Quyết định tách ra xử lý bằng vụ án khác.

Đối với Nguyễn Duy T, Lê Thanh M, Nguyễn Mạnh H, Trần Văn T, quá trình điều tra lại không triệu tập được nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án,Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can, ra Quyết định truy nã, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Ngày 23/01/2019, Tòa án nhân dân quận Tân Bình mở phiên tòa hình sự sơ thẩm xét xử các bị cáo Huỳnh Trinh T, Lê Hoàng P, Lâm Thành T, Nguyễn Lâm Thế T và Nguyễn Duy Đ về tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Đặng Hoài A, Bùi Thanh P, Nguyễn Minh P, Trương Hồng Đ, Huỳnh Tuấn A, Đặng Thị Minh P, Lê Thanh T, Nguyễn Hà L, Diệp Cẩm T, Nguyễn Ngọc T, Triệu Tấn P về tội “Đánh bạc” (Bản án số 09/2019/HS-ST đã có hiệu lực pháp luật).

Ngày 22/01/2019, Nguyễn Mạnh H đến Phòng PC01 Công an tỉnh Ninh Bình đầu thú. Ngày 25/01/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình tiếp nhận bị can H, phục hồi điều tra vụ án hình sự đối với bị can số 03/QĐ; Quyết định phục hồi điều tra bị can số 02/QĐ ngày 29/01/2019.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Mạnh H thừa nhận hành vi phạm tội và khai tại thời điểm bị bắt có mang theo số tiền 1.500.000 đ để đánh bạc. H đã chơi xong hai ván mỗi ván đặt 500.000 đồng nhưng đều bị thua và đang đánh ván thứ 3 với số tiền 500.000 đồng nhưng chưa kết thúc thì bị bắt. Tổng cộng số tiền H dùng để đánh bạc và phải chịu trách nhiệm hình sự chung với nhà cái là 40.500.000 đồng.

Vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động hiệu Nokia, 01 điện thoại di động hiệu Iphone và số tiền 7.000.000 đồng, do công an thu giữ của Hùng (đã nhập kho vật chứng).

Tại bản cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 12 tháng 4 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình trình bày luận tội, cụ thể:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa thông qua lời khai của bị cáo, thì hành vi dùng tiền đánh bạc bằng hình thức lắc tài, xỉu được thua bằng tiền với số tiền được thua với nhà cái 40.500.000 đồng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội do cố ý do đó cần xử bị cáo hình phạt phù hợp mới có tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng do đó cần giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Từ căn cứ trên đề nghị áp dụng Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009, đề nghị xử phạt bị cáo mức án 8 tháng 18 ngày tù (bằng với thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam).

Về vật chứng vụ án: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, 01 điện thoại di động hiệu Iphone và số tiền 7.000.000 đồng thu giữ của bị cáo. Xét thấy đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về sự vắng mặt của bị cáo tại phiên tòa: Ngày 14/5/2019, Tòa án nhân dân quận Tân Bình đã thực hiện việc tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử trực tiếp cho bị cáo tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo đã nhận Quyết định đưa vụ án ra xét xử và trình bày do hoàn cảnh của bị cáo ở xa, đi lại khó khăn nên xin vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị xét xử vắng mặt bị cáo (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Tại khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: Tòa án chỉ có thể xét xử vắng mặt bị cáo trong các trường hợp:

a) Bị cáo trốn và việc truy nã không có kết quả;

b) Bị cáo đang ở nước ngoài và không thể triệu tập đến phiên tòa;

c) Bị cáo đề nghị xét xử vắng mặt và được Hội đồng xét xử chấp nhận;

d) Nếu sự vắng mặt của bị cáo không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử.

Như vậy căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự và tài liệu có trong hồ sơ vụ án xét thấy bị cáo đã đề nghị xét xử vắng mặt và việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận và xử vắng mặt bị cáo.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa thông qua việc thẩm tra các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo thì hành vi dùng tiền đánh bạc bằng hình thức lắc tài, xỉu được thua bằng tiền với số tiền thua được với nhà cái là 40.500.000 đồng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Đồng thời qua phần phân tích, đánh giá, nhận định của đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội, nhận thấy những căn cứ Viện kiểm sát viện dẫn chứng minh hành vi phạm tội để đề nghị truy tố, xử phạt bị cáo như đã nêu trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Xét bị cáo phạm tội do cố ý, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu trật tự, trị an tại địa phương nên cần xử phạt bị cáo mức án phù hợp để có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Từ phân tích trên xét thấy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội để xét xử bị cáo.

Việc đại diện viện kiểm sát căn cứ tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân bị cáo để đề nghị áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về xử lý vật chứng vụ án: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, 01 điện thoại di động hiệu Iphone và số tiền 7.000.000 đồng thu giữ của bị cáo. Xét thấy đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử thống nhất trả lại cho bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát.

[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội;

Căn cứ khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Căn cứ Luật phí, lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: NGUYỄN MẠNH H 08 (tám) tháng 18 (mười tám) ngày tù về tội “Đánh bạc”.

Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/8/2015 đến ngày 22/4/2016 và từ ngày 22/01/2019 đến ngày 31/01/2019 (Bằng với thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam và bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù).

[2] Trả lại cho bị cáo số tiền 7.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh dương, số imeil: 355926/05/978766/0; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng, số imeil: 013403006841507 (tình trạng vật chứng như phiếu nhập kho vật chứng của Công an quận Tân Bình).

[3] Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sư có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Hội đồng xét xử đã giải thích về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án cho đương sự theo quy định tại Điều 26 Luật Thi hành án (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015).

[4] Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.


35
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về