Bản án 55/2019/HS-PT ngày 17/07/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 55/2019/HS-PT NGÀY 17/07/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 17 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 62/2019/TLPT-HS ngày 10-6-2019 đối với bị cáo Đặng Quốc Ph, do có kháng cáo của bị cáo, đối với bản án hình sự sơ thẩm 61/2019/HSST ngày 07-5-2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

* Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Đặng Quốc Ph (Tên gọi khác: Bi Sừng), sinh năm 1979 tại tỉnh Lâm Đồng. Nơi ĐKNKTT và cư trú: 21/3 NK, phường 1, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Thợ giặt ủi. Trình độ học vấn: Lớp 10/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Phật giáo. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đặng P, sinh năm 1952. Con bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1954, hiện đều cư trú tại 21/3 NK, phường 1, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Vợ Nguyễn Thị Tường L, sinh năm 1985 (đã ly hôn), có 01 con, sinh năm 2001. Hiện đang định cư tại Hoa Kỳ.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án số 416/HSPT ngày 27-3-2003 của Tòa phúc thẩm, Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16-8-2004).

Tại bản án số 43/2015/HSST ngày 13-02-2015 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 14-8-2016).

Bị bắt ngày 26-02-2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, hành vi bị cáo bị truy tố, xét xử được tóm tắt như sau:

Bị cáo Đặng Quốc Ph là đối tượng sử dụng và nghiện chất ma túy từ năm 2010. Ngày 23-02-2019 bị cáo Phi đến khu vực Bến xe Thành Bưởi tại Thành Phố Hồ Chí Minh, mua của một người đàn ông chạy xe ôm (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 gói ma túy với giá 700.000đ, sau đó đem về thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng, lấy một ít ra sử dụng, số còn lại bị cáo chia làm 02 gói nhỏ, cất giấu trong người với mục đích để sử dụng dần. Đến khoảng 19 giờ ngày 26-02-2019, trong lúc bị cáo đang điều khiển xe mô tô đi trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 1, thành phố Đà Lạt thì bị cơ quan Công an phát hiện bị cáo có biểu hiện không bình thường nên đã kiểm tra và bắt quả tang bị cáo đang cất giấu trong chiếc quần lót đang mặc trên người 02 gói nilon hàn kín, bên trong chứa chất ở dạng tinh thể màu trắng.

Tại Kết luận giám định số 695/GĐ-PC09 ngày 28-02-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận “Mẫu chất ở dạng tinh thể đựng trong 02 gói nilon được niêm phong gởi giám định có khối lượng 01,6692 gam là chất Methamphetamine”. Methamphetamine là chất ma túy, nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15-5-2018 của Chính phủ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2019/HSST ngày 07-5-2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt đã tuyên bố bị cáo Đặng Quốc Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Sau đây gọi tắt Bộ luật hình sự năm 2015).

Xử phạt bị cáo Đặng Quốc Ph 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26-02-2019.

Ngoài ra, bản án còn xử lý vật chứng, tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 17-5-2019 bị cáo Ph kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm; bị cáo khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và bị bắt quả tang như bản án sơ thẩm đã quy kết, không thắc mắc khiếu nại gì bản án sơ thẩm. Tuy nhiên bị cáo cho rằng bản án sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm là không đúng, đề nghị không áp dụng tình tiết tăng nặng, đồng thời giảm nhẹ cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm không áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Về hình phạt, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo giữ bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vào khoảng 19 giờ ngày 26-02-2019, Cơ quan Công an bắt quả tang bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy đang cất giấu trong chiếc quần lót đang mặc trên người 02 gói nilon hàn kín, bên trong chứa chất ở dạng tinh thể màu trắng. Kết luận giám định số 695/GĐ-PC09 ngày 28-02-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận “Mẫu chất ở dạng tinh thể đựng trong 02 gói ni lon được niêm phong gởi giám định có khối lượng 01,6692 gam là chất Methamphetamine”. Methamphetamine là chất ma túy, nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15-5-2018 của Chính phủ. Cấp sơ thẩm đánh giá toàn diện chứng cứ, đối chiếu lời khai của bị cáo, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, đã tuyên bố bị cáo Đặng Quốc Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo, đối chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện: Quá trình điều tra, xác định bị cáo chưa chấp hành xong về án phí của bản án 416/HSPT ngày 27-3-2003, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Tuy nhiên, theo Văn bản số 357/TB-THADS ngày 10-5-2019; Văn bản số 17/XNKQTHA ngày 13-5-2019 của Chi cục THADS thành phố Đà Lạt (Kèm theo biên lai thu tiền thi hành án số 003779 ngày 09-12-2003) thì bị cáo đã chấp hành xong bản án này, nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng. Ngoài ra, bị cáo thành khẩn khai báo và đã được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Căn cứ vào nhân thân bị cáo đã bị xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số 43/2015/HSST ngày 13-02-2015 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng) tuy đã được xóa án tích không coi là tiền án, nhưng nay bị cáo tiếp tục phạm tội này, cấp sơ thẩm đánh giá toàn diện tính chất mức độ hành vi xử phạt bị cáo 30 tháng tù là thỏa đáng, nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo kháng cáo được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự,

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đặng Quốc Ph về áp dụng tình tiết tăng nặng; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo về giảm nhẹ hình phạt; sửa bản án sơ thẩm. Xử:

Tuyên bố bị cáo Đặng Quốc Ph phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Đặng Quốc Ph 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26-02-2019.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Đặng Quốc Ph không phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


85
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về