Bản án 22/2017/HSPT ngày 14/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

BẢN ÁN 22/2017/HSPT NGÀY 14/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 14/9/2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai. Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 26/2017/HSPT ngày 04/8/2017, đối với bị cáo Phạm Hoàng A, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 61/2017/HSST ngày 29/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai.

Bị cáo Phạm Hoàng A - sinh ngày 20/6/1985. Tại Lào Cai.

Nơi ĐKNKTT: Tổ 46, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng. Chỗ ở trước khi bị bắt: Tổ 37, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh ;Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Tiền án, tiền sự: Không

Con ông Phạm Quang Th - sinh năm 1958 và bà Hoàng Thị Ngọc L - sinh năm 1960 cùng trú tại: Tổ 19B, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

Bị cáo chưa có vợ, chưa có con.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2017. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam tỉnh Lào Cai. Có mặt.

NHẬN THẤY

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 00 phút ngày 28/3/2017 tổ công tác, phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Lào Cai bắt quả tang Phạm Hoàng A có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại tổ 37, phường C thành phố  Lào Cai. Tang vật thu giữ gồm 01 bao thuốc lá nhãn hiệu “555” bên trong có 14 gói ni lon chứa các hạt tinh thể màu trắng dạng đá và 02 gói nilon bên trong có 17 viên nén màu xanh, bên trên mỗi viên nén có ký hiệu “VL”; 01 điện thoại di động màu bạc nhãn hiệu FPT đã qua sử dụng, 01 giấy phép lái xe mang tên Phạm Hoàng A, khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Hoàng A tại số nhà 016, đường N, tổ 37, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai, thu giữ tại đầu đệm ngủ của Phạm Hoàng A 01 gói nilon bên trong là các hạt tinh thể màu trắng dạng đá, thu giữ tại sàn nhà 03 gói nilon bên trong là các hạt tinh thể màu trắng dạng đá.

Phạm Hoàng A khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 26/3/2017 Phạm Hoàng A đi tắcxi đến nhà nghỉ H ở phường L, thành phố L nhờ một người đàn ông đi xe ôm tìm cho một nhân viên mát xa và Hoàng A trả công cho người đi xe ôm 100.000 đồng. Hoàng A và N (nhân viên mát xa) lên phòng 203 nhà nghỉ H, A hỏi N có sử dụng ma túy không? N trả lời “cái gì N cũng biết” A hỏi N có mua được ma túy không, N nói “Mua được”, A đưa cho N năm triệu đồng và nói với N “Em mua hộ anh năm triệu đồng tiền Ke, đá, kẹo”. Sau đó N và A cùng đi tắcxi đến khu vực số nhà 222 đường D, thành phố L. N xuống xe đi khoảng 02 phút  thì quay trở lại tắcxi, N và anh tiếp tục đi tắcxi về đầu cầu C. N nói có việc riêng đi và đưa cho A 01 vỏ bao thuốc lá “555”, A xuống tắcxi và đi tắcxi khác về phòng trọ. Về đến phòng trọ A  mở bao thuốc lá “555” ra trong đó có các loại ma túy và chia số ma túy Ketamine thành 14 gói, ma túy tổng hợp (MDMA) thành 02 gói. Methamphetamine thành 04 gói. Sau đó A cho số ma túy đã chia nhỏ vào vỏ bao thuốc “555” để gần đệm ngủ của A mục đích để sử dụng dần cho bản thân. Đến khoảng 14 giờ ngày 28/3/2017 thì bị Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ và niêm phong toàn bộ vật chứng.

Tại bản kết luận giám định số 78/GĐMT ngày 03/4/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận:

Bì 01: Gói 01: 7,90 gam là loại chất ma túy Ketamine; Gói 02: 5,60 gam là loại chất ma túy MDMA;

Bì 2: 3,95 gam là loại chất ma túy Methamphetamine. Ketamine; MDMA và Methamphetamine đều thuộc danh mục của chất ma túy ban hành kèm theo nghị định 82/2013 NĐ-CP ngày 19/7/2013 của chính phủ về danh mục các chất ma túy và tiền chất. Cụ thể Ketamine thuộc danh mục III, số thú tự 35; MDMA thuộc danh mục I, số thứ tự 22; Methamphetamine thuộc danh mục II, số thú tự 67.

Bản án số 61/2017/HSST ngày 29/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng A 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng  tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo 28/3/2017.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 11/7/2017,  bị cáo Phạm Hoàng A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do: Bị cáo đã tự giác giao nộp toàn bộ số ma túy, quá trình điều tra khai báo thành khẩn, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và có ông nội được tặng thưởng huy chương.

Tại phiên tòa bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai trình bày quan điểm : Bị cáo tàng trữ 03 chất ma túy với tổng trọng lượng là 17,45 gam nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xử bị cáo mức án 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phạm Hoàng A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại kết quả giám định số 78/GĐMT ngày 03/4/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai đã kết luận: Tổng trọng lượng ma túy Phạm Hoàng A đã tàng trữ là 17,45gam  và cả 03 loại chất ma túy đó đều thuộc danh mục của chất ma túy ban hành kèm theo Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của chính phủ.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999: Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng A 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là hoàn toàn đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy kháng cáo của bị cáo Phạm Hoàng A xin giảm nhẹ mức hình phạt là không có căn cứ chấp nhận.

Bị cáo Phạm Hoàng A kháng cáo nhưng không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên; Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Hoàng A và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 61/2017/HSST ngày 29/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai như sau: Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 : Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng A 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo 28/3/2017.

2. Về án phí: Bị cáo Phạm Hoàng A phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

“Trưng hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 9 Luật Thi hành án dân sự”.


114
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 22/2017/HSPT ngày 14/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

Số hiệu:22/2017/HSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Lào Cai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:14/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về