Bản án 55/2018/HS-ST ngày 24/12/2018 về tội giết người

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 55/2018/HS-ST NGÀY 24/12/2018 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 24 tháng 12 năm 2018, Tòa án nhân dân tỉnh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2018/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2018/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:

Bị cáo Lê Viết Nam S (tên gọi khác: N), sinh ngày 20/10/2001, tại Đắk Lắk; Nơi đăng ký HKTT: thôn 1, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở: thôn B, xã L, thị xã P, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Thợ sơn ô tô; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Viết L (đã chết) và bà Hồ Thị H, sinh năm 1954; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/7/2018 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Hồ Thị H, sinh năm 1951 “Có mặt”

Địa chỉ: Thôn 1, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Minh Đ, Văn phòng luật sư Đăng Minh - Đoàn luật sư tỉnh Bình Phước. “Có mặt”

- Bị hại: Nguyễn B, sinh năm 1994 (Đã chết)

Địa chỉ: Thôn 1, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1953 “Có mặt”

2. Bà Phạm Thị L, sinh năm 1963 “Có mặt”

3. Anh Nguyễn B1, sinh năm 1986 “Có mặt”

Cùng địa chỉ: Thôn 1, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

(Ông Q và bà L ủy quyền cho anh B1 tham gia tố tụng theo giấy ủy quyền ngày 01/10/2018)

- Người làm chứng:

1. Cháu Nguyễn Phát G, sinh ngày 02/10/2003 “Có mặt”

Địa chỉ: Khu phố B, phường S, thị xã P, tỉnh Bình Phước.

- Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Phát G:

Anh Nguyễn Trung T, sinh năm 1980 “Có mặt”

Địa chỉ: Khu phố B, phường S, thị xã P, tỉnh Bình Phước.

2. Anh Hồ Tấn B2, sinh năm 1981 “Có mặt”

Địa chỉ: Khu phố B, phường S, thị xã P, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Viết Nam S và Nguyễn B có mối quan hệ quen biết nhau và cùng làm nghề sửa xe ô tô tại phường Sơn Giang, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Khoảng 17 giờ ngày 30/7/2018, Nguyễn B điều khiển xe mô tô đến Gara ô tô Huy ở phường Sơn Giang, thị xã P chở Lê Viết Nam S đến quán “Cầy tơ Nam Định” thuộc khu phố 5, phường L, thị xã P uống rượu với Nguyễn Hoàng T1 và Nguyễn Trung T. Sau khi uống được khoảng 6 đến 7 ly rượu thì S thấy mệt, nên không uống nữa và ngồi chơi. Lúc này B rót rượu mời S thì S uống với B một ly. Sau đó, B tiếp tục rót rượu mời S nhưng S từ chối không uống, nên B nói “Mày không uống được thì mày đi về mẹ đi”, S nói “Vậy anh rót 7-8 ly để đó để em hết nhói bụng em uống”, B nói “Từ nay sẽ không chơi với S nữa” và đuổi S đi về, nên S đứng dậy đi bộ về. Trên đường đi, S gọi điện thoại cho bạn là Ngô Văn P trú tại khu phố 2, phường T, thị xã P đến chở S về. Khi P chạy xe đến thì không thấy S nên P gọi điện thoại cho B hỏi có biết S ở đâu không để chở S về, thì B nói “Nếu P chở S về, B từ mặt P và không chơi với P nữa”. Lúc này, P nhìn thấy S đang đi bộ đến nên P kể cho S nghe việc B vừa nói với P thì S kêu P chở S quay lại quán. Khi P chở S quay lại quán “Cầy tơ Nam Định”, S đi vào quán to tiếng với B một lúc rồi S nhờ P chở về Gara Huy. Khi về đến Gara Huy, S thấy Nguyễn Phát G là thợ sửa xe cùng với S đang ở tại Gara. S lên võng để bên trong Gara nằm và lấy điện thoại ra sử dụng. Trong khi sử dụng điện thoại, S nhận được tin nhắn của B nhắn cho S trên mạng Facebook nhưng S không hiểu được nội dung tin nhắn của B. Sau đó S và B nhắn tin chửi và thách thức đánh nhau. B nhắn tin hẹn S ra đường đánh nhau thì S nhắn tin hẹn B đến Gara Huy để đánh nhau. Sau khi nhắn tin với B, S đi đến tủ quần áo tại Gara lấy một con dao bấm bằng kim loại dài 20,8cm, một lưỡi sắc, mũi dao nhọn, lưỡi dài 9,2cm đem đến để ở trên bàn gần vị trí S nằm rồi tiếp tục nằm trên võng sử dụng điện thoại. Trong khi S đang nằm trên võng thì B chạy xe mô tô đến dựng trước cửa Gara Huy, rồi đi vào Gara gọi S. Nghe tiếng B gọi, S đứng dậy lấy con dao bấm trên bàn bỏ vào túi quần sau bên phải rồi đi ra cửa Gara gặp B. S thấy B cầm dao đi vào nên nói “Gì, anh muốn gì, anh cầm dao đến đây làm gì, anh đâm đi”, B chửi lại “Mày sống chó”, S nói “Tôi sống chó vậy đó, rồi sao”. B dùng tay trái tát vào mặt S thì S chỉ vào mặt B rồi cầm tay phải của B kéo con dao dí vào bụng mình thách thức B đâm thì B dùng tay trái đẩy S ra. B cầm dao vỗ vào mặt, cổ S thì S dùng tay trái gạt dao ra nên lưỡi dao cứa vào cổ S làm rách da. B tiếp tục dùng tay trái nắm cổ áo, nhổ nước bọt vào mặt S. Lúc này S lấy con dao bấm ở trong túi quần ra và bấm nút mở lưỡi dao, tay phải S cầm dao đâm liên tục 05 nhát trúng vào vùng ngực, lưng, tay và vai trái của B, S để con dao dính trên vai trái của B, rồi bỏ chạy ra phía sau Gara đứng. B cầm dao đuổi theo S, khi đến bên hông nhà anh Hồ Tấn B2 cạnh Gara, thì B làm rơi con dao của B đang cầm trên tay xuống đất, rồi B kêu anh B2 cứu, B tiếp tục đi ra gần đến cửa Gara thì bị té ngã, B rút con dao đang dính trên vai của B vứt cạnh bồn chưa nước ở Gara. Lúc này, anh B2 và G chạy đến chở B đến trung tâm Y tế thị xã P cấp cứu. Sau đó chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước cấp cứu thì tử vong.

Đối với Lê Viết Nam S, sau khi thấy B được chở đi cấp cứu thì S chạy xe theo đến trung tâm Y tế thị xã P hỏi thăm tình hình của B thì được biết B đã được chuyển xuống Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước nên quay về Gara Huy tìm hai con dao, nhưng chỉ thấy con dao của B nên S cầm con dao này đến Công an thị xã P, tỉnh Bình Phước đầu thú và giao nộp con dao cùng 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Pro màu gôn (vàng đồng).

Vật chứng thu giữ tại hiện trường và khi khám nghiệm gồm:

- 02 dấu vết màu nâu đỏ;

- 01 con dao bằng kim loại màu đen dạng gấp (bấm) dài 20,8cm, một lưỡi sắc, đầu dao nhọn, lưỡi dài 9,2cm, chỗ rộng nhất là 2,2cm;

- 01 USB lưu 10 tệp tin trích xuất trên 02 camera.

- 10ml máu, 10ml nước tiểu và máu thấm thẻ.

Thu giữ của Nguyễn B: 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu OPPO F5 màu đỏ của Nguyễn B.

Thu giữ của Lê Viết Nam S:

- 01 (một) quần Jean dài màu xám dài 97cm, bên trong có mác ghi chữ “LEISURE”; 01 áo sơ mi màu đen, bên trong cổ có mác ghi “SCOTCH & SODA” của Lê Viết Nam S.

- 01 con dao màu trắng, cán bằng nhựa, màu đen, lưỡi bằng kim loại màu trắng, dao dài 27,5 cm, lưỡi dài 16cm, sống dao 4 cm.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 237/2018/GĐPY ngày 05 tháng 8 năm 2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước, kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Hai vết thương thủng vào lồng ngực (vết thương số 01 và số 04) gây thủng phổi trái.

- Một vết thương do can thiệp phẫu thuật đặt ống dẫn lưu màng phổi (vết thương số 2)

- Ba vết thương phần mềm (vết thương số 3 - vú trái - cánh tay trái).

- Tràn máu khoang màng phổi trái.

- Các cơ quan nội tạng nhạt màu.

2. Nguyên nhân chết: Nạn nhân Nguyễn B tử vong do sốc mất máu cấp – Suy hô hấp cấp.

Tại Bản kết luận giám định pháp y qua hồ sơ số 299/2018/TgT ngày 07/11/2018 của Trung tâm pháp y - Y khoa Sở Y tế tỉnh Bình Phước, kết luận: Con dao (vật chứng giám định) khi tác động bằng mũi dao vào cơ thể có thể gây ra được vết thương số 1, số 3, số 4, số 5 và vết thương trên trong cánh tay trái trên cơ thể của Nguyễn B.

Phần trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn B1 là người đại diện hợp P của bị hại yêu cầu bồi thường số tiền viện phí cấp cứu, tiền xe vận chuyển, tiền hòm và các phụ kiện tang lễ, tiền xây mộ, chi phí chi tiêu trong đám tang và bù đắp tổn thất về mặt tinh thần tổng cộng số tiền bồi thường là 286.883.000 đồng (Hai trăm tám mươi sáu triệu, tám trăm tám mươi ba nghìn đồng). Bị cáo đã tác động gia đình là bà Hồ Thị H bồi thường số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Đại diện hợp pháp của bị hại tiếp tục yêu cầu bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo phải bồi thường số tiền 236.883.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 43/CT-VKS-P1 ngày 15-11-2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Lê Viết Nam S về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 theo quy định Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

+ Bị cáo Lê Viết Nam S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

+ Luật sư bào chữa cho bị cáo: Thống nhất về tội danh đối với bị cáo. Về hình phạt, Luật sư cho rằng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự , xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và đề nghị mức hình phạt áp dụng cho bị cáo là 07 năm tù.

+ Người đại diện hợp pháp của bị hại: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại độ tuổi của bị cáo, vì bị cáo không phải sinh năm 2001 mà sinh năm 1999 nên đã thành niên. Những nội dung khác đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

+ Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Về nội dung: Sau khi phân tích tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi của bị cáo thực hiện, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản Cáo trạng số 43/CT- VKS-P1 ngày 15/11/2018 đã truy tố đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 10 đến 11 năm tù; Về trách nhiệm dân sự đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và đại diện gia đình bị hại; về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo, bị cáo, đại diện hợp P của bị hại không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai nhận vào khoảng 17 giờ ngày 30/7/2018, trong lúc bị cáo và anh Nguyễn B ngồi uống rượu tại quán “Cầy tơ Nam Định” thì xảy ra mâu thuẫn với nhau. Sau khi bị cáo về nghỉ tại Gara Huy ở phường Sơn Giang, thị xã P, thì anh B và bị cáo dùng điện thoại di động nhắn tin thách thức đánh nhau nên bị cáo chuẩn bị sẵn 01 con dao bấm để phòng thân. Khoảng 05 phút sau, anh B lấy một con dao dài 27,5cm, rồi điều khiển xe mô tô đi đến Gara Huy gặp S. Khi gặp nhau thì giữa bị cáo và anh B xảy ra xô đẩy, bị cáo thách thức anh B đâm bị cáo nên anh B dùng tay trái tát vào mặt bị cáo và dùng dao kề vào mặt bị cáo và nhổ nước bọt vào bị cáo, bị cáo đẩy tay anh B ra nên bị dao làm xước da mặt. Sau đó bị cáo dùng tay trái của mình cầm tay phải của anh B và lấy con dao bấm giấu trong túi quần từ trước, tay phải bị cáo cầm dao bấm nút mở lưỡi dao đâm liên tiếp 05 nhát trúng vào vùng ngực, lưng, tay và vai trái của B dẫn đến tử vong.

Xét lời của bị cáo phù hợp lời khai của những người làm chứng về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, vật chứng của vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, kết luận giám định pháp y, đồng thời phù hợp với tất cả các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ được tranh tụng công khai tại phiên tòa.

[3] Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, khi thực hiện hành vi bị cáo hoàn toàn nhận thức được rằng việc dùng dao dao bấm bằng kim loại dài 20,8cm, một lưỡi sắc, mũi dao nhọn, lưỡi dài 9,2cm đâm liên tiếp 05 nhát trúng vào vùng ngực, lưng, tay và vai trái của anh B là nguy hiểm đến tính mạng nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Chỉ xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt, bị cáo không lựa chọn cách thức xử sự phù hợp, mà lại dùng dao bấm là hung khí nguy hiểm đâm anh B 05 nhát vào vùng ngực, lưng, tay và vai trái làm cho anh B tử vong. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự. Do đó, bản Cáo trạng số số 43/CT-VKS-P1 ngày 15-11-2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng quy định P luật.

[4] Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi mà bị cáo gây ra là đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm đến tính mạng của người bị hại - là khách thể đặc biệt được pháp luật hình sự ưu tiên bảo vệ. Tuy nhiên, chỉ từ mâu thuẫn nhỏ nhặt nhưng bị cáo lại đâm anh B dẫn đến tử vong, gây đau thương mất mát to lớn cho người thân và gia đình nạn nhân, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

[5] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Khi thực hiện hành vi phạm tội và khi xét xử bị cáo là người chưa thành niên. Sau khi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Hơn nữa, bị cáo có ông bà ngoại là liệt sỹ và có người thân thích ông Hồ Văn Đ, bà Lê Thị P là người có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất khung hình phạt. Như nhận định tại mục [3] nêu trên, chỉ xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt, bị cáo đã dùng dao bấm đâm nhiều nhát vào vùng xung yếu trên cơ thể bị hại làm cho bị hại tử vong. Mặc dù khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên, nhưng xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của Luật sư.

[6] Tại phiên tòa, người đại diện cho gia đình bị hại cho rằng do nhà của bị cáo ở gần nhà bị hại, nên gia đình bị hại được biết bị cáo thực tế sinh năm 1999, chứ không phải sinh năm 2001, nên đề nghị Hội đồng xét xử giám định xương của bị cáo. Xét thấy, quá trình điều tra, truy tố, các Cơ quan tiến hành tố tụng đã tống đạt các văn bản tố tụng cho gia đình bị hại, trong đó có đề cập bị cáo sinh năm 2001, nhưng gia đình bị hại không có ý kiến hay yêu cầu giám định xương. Hơn nữa, tài liệu thu thập được trong hồ sơ xác định bị cáo sinh năm 2001, phù hợp với Giấy khai sinh của bị cáo đăng ký vào ngày 05/4/2002 tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện C. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của đại diện gia đình bị hại.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị hại và bị cáo tự thỏa thuận với nhau về việc bị cáo sẽ bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 286.833.000 đồng; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000 đồng, còn lại 236.833.000 đồng bị cáo sẽ bồi thường cho gia đình bị hại. Xét nội dung thỏa thuận giữa đại diện gia đình bị hại và bị cáo do các bên hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm và đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này.

[8] Vật chứng vụ án:

- Đối với 02 (hai) con dao gồm 01 con dao bằng kim loại màu đen dạng gấp (bấm) dài 20,8cm, một lưỡi sắc, đầu dao nhọn, lưỡi dài 9,2cm, chỗ rộng nhất là 2,2cm và 01 con dao màu trắng, cán bằng nhựa, màu đen, lưỡi bằng kim loại màu trắng, dao dài 27,5 cm, lưỡi dài 16cm, sống dao 4 cm; 01 (một) quần Jean dài màu xám dài 97cm, bên trong có mác ghi chữ “LEISURE”; 01 áo sơ mi màu đen, bên trong cổ có mác ghi “SCOTCH & SODA” của Lê Viết Nam S. Những vật chứng nêu trên là công cụ phạm tội và liên quan đến vụ án, hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Pro màu gôn (vàng đồng) của Lê Viết Nam S; 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu OPPO F5 màu đỏ của Nguyễn B sử dụng vào mục đích thực hiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ.

- Đối với 01 USB đây là chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án nên cần niêm phong chuyển theo hồ sơ vụ án.

[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[10] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lê Viết Nam S phạm tội “Giết người”;

2. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 15, Điều 91, Điều 98 và Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Lê Viết Nam S 10 (Mười) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30 tháng 7 năm 2018.

3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bằng kim loại màu đen dạng gấp (bấm) dài 20,8cm, một lưỡi sắc, đầu dao nhọn, lưỡi dài 9,2cm, chỗ rộng nhất là 2,2cm; 01 con dao màu trắng, cán bằng nhựa, màu đen, lưỡi bằng kim loại màu trắng, dao dài 27,5 cm, lưỡi dài 16cm, sống dao 4 cm (của B); 01 (một) quần Jean dài màu xám dài 97cm, bên trong có mác ghi chữ “LEISURE”; 01 áo sơ mi màu đen, bên trong cổ có mác ghi “SCOTCH & SODA” của Lê Viết Nam S; Đối với những vật chứng nêu trên, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu OPPO F5 màu đỏ của Nguyễn B; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Pro màu gôn (vàng đồng) của Lê Viết Nam S;

- Lưu hồ sơ vụ án: 01 USB.

4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các điều 584, 585, 586 và Điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015:

Ghi nhận sự thỏa thuận giữa đại diện gia đình bị hại và bị cáo về việc bị cáo Lê Viết Nam S có nghĩa vụ bồi thường cho anh Nguyễn B1 - đại diện gia đình bị hại số tiền 236.833.000 đồng (Hai trăm ba mươi sáu triệu tám trăm ba mươi ba ngàn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

5.Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Viết Nam S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.922.000 đồng (Năm triệu chín trăm hai mươi hai ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 55/2018/HS-ST ngày 24/12/2018 về tội giết người

Số hiệu:55/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bình Phước
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 24/12/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về