Bản án 55/2017/HNGĐ-ST ngày 15/12/2017 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

BẢN ÁN 55/2017/HNGĐ-ST NGÀY 15/12/2017 VỀ LY HÔN

Ngày 15 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 205/2017/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2017 về việc: Ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1991

Địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện Văn Yên, Yên Bái (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Đỗ Văn X, sinh năm 1988

Địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện Văn Yên, Yên Bái (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ly hôn và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Lê Thị H trình bầy: Tôi và anh X kết hôn với nhau là tự nguyện. Đăng ký ngày 22/9/2008 tại UBND xã T, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau hạnh phúc được thời gian đầu. Mâu thuẫn bắt đầu xảy ra từ tháng 6/2017 cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh X ghen tuông vô cớ và từ đó mâu thuẫn vợ chồng bắt đầu xảy ra, anh X chửi bới xúc phạm tôi vì thế tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc và chúng tôi đã sống ly thân nhau từ thời gian đó cho đến nay không ai quan tâm đến ai cả. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn. Đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn anh X.

* Về con chung: Có 02 cháu: Đỗ Lê Gia H sinh ngày 26/6/2009; Đỗ Lê Gia B sinh ngày 09/7/2013. Khi ly hôn anh X nhận nuôi hai con và không yêu cầu tôi cấp dưỡng nuôi con. Tôi đồng ý.

* Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Đỗ Văn X trình bày: Tôi và chị H kết hôn với nhau là tự nguyện. Đăng ký ngày 22/9/2008 tại UBND xã T, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc thời gian đầu. Đến tháng 7/2017 thì mâu thuẫn vợ chồng xảy ra. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng cãi nhau vì không hiểu nhau từ đó dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng xảy ra. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn. Chị H xin ly hôn tôi không đồng ý ly hôn.

* Về con chung: Có 02 cháu: Đỗ Lê Gia H sinh ngày 26/6/2009; Đỗ Lê Gia B sinh ngày 09/7/2013. Khi ly hôn tôi nhận nuôi hai con và không yêu cầu chị Huyền cấp dưỡng nuôi con.

* Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng dân sự, quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị H được ly hôn anh X. Căn cứ điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình xử giao hai cháu H và B cho anh X nuôi dưỡng. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp về Hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của Tòa án là đúng thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và Bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại khoản 1 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tư cách người tham gia tố tụng: Tòa án đã xác định đúng tư cách của người tham gia tố tụng gồm nguyên đơn, bị đơn trong vụ án.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Đỗ Văn X kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái vào ngày 22 tháng 9 năm 2008 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị có thời gian đầu chung sống với nhau hạnh phúc. Mâu thuẫn bắt đầu xảy ra từ tháng 7/2017 cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn chị H cho rằng do anh X ghen tuông vô cớ và chửi bới xúc phạm chị và từ đó mâu thuẫn vợ chồng xảy ra. Còn anh X cho rằng mâu thuẫn vợ chồng có xảy ra là do vợ chồng không hiểu nhau. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 7/2017 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân nhau anh chị không ai quan tâm đến ai cả. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn. Chị H xin ly hôn anh X là có căn cứ.

Tại điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bầy của đương sự, phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Đã xác định chị H và anh X mâu thuẫn có xảy ra và hiện nay anh chị đã sống ly thân nhau từ tháng 7/2017 cho đến nay không ai quan tâm đến ai. Từ đó có căn cứ cho rằng tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh X đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 để xử cho chị H được ly hôn anh X là có căn cứ.

[4] Về con chung: Có 02 cháu: Đỗ Lê Gia H sinh ngày 26/6/2009; Đỗ Lê Gia B sinh ngày 09/7/2013. Quá trình giải quyết vụ án anh Xuân nhận nuôi hai con và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Chị H đồng ý. Do vậy cần giao cháu H và B cho anh X nuôi dưỡng. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con phù hợp với quy định tại điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân gia đình.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại điều 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào điều 56; 57 Luật hôn nhân và gia đình. Xử cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Đỗ Văn X.

2. Về nuôi con chung: Căn cứ điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình. Xử giao cháu Đỗ Lê Gia H sinh ngày 26/6/2009; Đỗ Lê Gia B sinh ngày 09/7/2013 cho anh Đỗ Văn X trực tiếp chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm con không ai được ngăn cản.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Chị H phải chịu 300.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: AA/2013/04548 ngày 02/10/2017 tại Thi hành án dân sự huyện Văn Yên. Xác nhận chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


92
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 55/2017/HNGĐ-ST ngày 15/12/2017 về ly hôn

Số hiệu:55/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Văn Yên - Yên Bái
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:15/12/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về