Bản án 54/2021/HSST ngày 26/01/2021 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 54/2021/HSST NGÀY 26/01/2021 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Trong ngày 26 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2021/QĐXXST-HS ngày 11/01/2021 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Đỗ Thị C; Tên gọi khác: Ch; Sinh năm 1967, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: K1/34A, khu phố 2, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: Lớp 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn C (Đã chết) và bà Trần Thị C, sinh năm 1940; Có chồng là Nguyễn Hữu H, sinh năm: 1965; Có 02( hai) con, sinh năm: 1990 và 1993.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 17/10/2020 đến ngày 26/10/2020. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 1373 ngày 26/10/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B.

2/ Họ và tên: Nguyễn Ngọc Ch; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1961, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: 962/19, khu phố Đ, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Ch ,sinh năm: 1929 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị G, sinh năm: 1930 (Đã chết); Có chồng là Hồ Kim T, sinh năm 1955; Có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 1982, con nhỏ nhất sinh năm 1996.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 17/10/2020 đến ngày 26/10/2020. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 1375 ngày 26/10/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B.

3/ Họ và tên: Phạm Thị Kim L;Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1976, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: K2/133B, khu phố 1, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn Th, sinh năm 1952 (Còn sống) và bà Phạm Thị B, Sinh năm: 1952; Có chồng là Bùi Hữu Th, sinh năm 1975 (đã ly hôn); Có 01 người con sinh năm 1996.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 17/10/2020 đến ngày 26/10/2020. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 1374 ngày 26/10/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B.

4/ Họ và tên: Trần Thị Th; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1976, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: K2/129B, khu phố 1, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: Lớp 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn B, sinh năm 1940 (Đã chết) và bà Đào Thị L, Sinh năm: 1942 (Đã chết); Có chồng là Lâm Hồng D sinh năm 1970; Có 02 người con sinh các năm 2004 và 2006.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 17/10/2020 đến ngày 26/10/2020. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 1377 ngày 26/10/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B.

5/ Họ và tên: Trần Thị Thu Th; Tên gọi khác: Không; Sinh 1970, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: K1/66, khu phố 4, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Th, sinh năm: 1950 (Đã chết) và bà Lê Thị N, sinh năm: 1955 (Còn sống); Có chồng là Tô Ngọc D, 1969 (đã ly hôn); có 01 người con với ông D sinh năm 1991.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 17/10/2020 đến ngày 26/10/2020. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 1376 ngày 26/10/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B.

(Các bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 17-10-2019, tại nhà của Đỗ Thị C địa chỉ K1/34A, khu phố 2, phường B, thành Phố B, tỉnh Đồng Nai, Cúc chuẩn bị 01 bộ bài “Tứ Sắc” sử dụng căn nhà trên làm địa điểm để đánh bạc cùng với Phạm Thị Kim L, Nguyễn Ngọc Ch, Trần Thị Th và đối tượng tên Ch (chưa rõ nhân thân lai lịch) thắng thua bằng tiền với hình thức đánh bài “Tứ sắc”. Cách thức như sau:

Những người tham gia đánh bạc sử dụng 01 bộ bài Tứ sắc có 112 lá bài: “Tướng, Sĩ, Tượng, Xe, Pháo, Mã, Tốt” với 04 màu Trắng, Xanh, Vàng, Đỏ chia làm 04 tụ. Mỗi tụ chia làm 20 lá bài, người đánh trước cũng là người thắng được chia thêm 01 lá (tức 21 lá). Số bài dư gọi là “bài Tì” để trên đĩa nhựa giữa chiếu bạc. Những người tham gia đánh bạc sắp xếp các lá bài thành bài chẵn. Bài chẵn là các lá bài hợp thành “Tướng- Sĩ- Tượng; Xe- Pháo- Mã; 04 Xe; 04 Mã; 04 Pháo:

04 Tướng; 04 Sĩ; 04 Tượng; 03 hoặc 04 Tốt” cùng màu. Ngoài ra, từ 03 đến 05 lá “Tốt” cũng được hợp thành chẵn khi khác màu. Cách chơi: Người đánh trước đánh 01 lá bài lẻ xuống, sau đó theo thứ tự vòng từ phải qua trái, lần lượt từng người chơi tiếp theo có thể “ăn” lá bài lẻ đó nếu hợp lại đủ bộ chẵn với bài cầm trên tay và đánh đi lá bài lẻ. Nếu không “ăn” thì rút 01 lá bài “Tì” lên rồi đánh đi lá bài lẻ cho đến khi hết bài “Tì”. Người nào không còn bài lẻ đầu tiên thì thắng ba người còn lại. Nếu hết bài “Tì” mà không có người thắng thì hòa và chơi lại. Những người tham gia đánh bạc quy định mỗi người bỏ ra trước mặt số tiền 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) để đánh bạc. Mỗi ván ba người thua mỗi người phải trả cho người thắng là 60.000đ (Sáu mươi nghìn đồng) với tổng số tiền 180.000đ (Một trăm tám mươi nghìn đồng). Khi có người thua hết số tiền 600.0000đ (Sáu trăm nghìn đồng) dưới chiếu thì kết thúc 01 “Chến”. Cúc quy định cứ kết thúc 01 “Chến” mỗi người chơi phải nộp 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng) tiền xâu.

Số tiền từng người sử dụng đánh bạc cụ thể như sau:

- Trần Thị Thu Th mang theo số tiền 2.400.000đ (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng) đến nơi thấy Đỗ Thị C đang đánh bạc và trước mặt C có số tiền 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng). Th vào thay chỗ C và vay C số tiền này để đánh bạc. Sau khi đánh xong “Chến” thứ nhất với kết quả hòa nên Th trả lại C số tiền 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng). Th lấy 640.000đ (Sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) sử dụng đánh bạc. Trong quá trình đánh bạc do phải về cho con uống thuốc nên Th nhờ Ch (Không rõ nhân thân lai lịch) cầm bài giúp Th đánh bạc cùng với Ch, Th, L. Khoảng 10 phút sau Th quay lại tiếp tục đánh bạc. Khi bị bắt, Th đã nộp xâu 40.000đ (Bốn mươi nghìn đồng), thua 240.000đ (Hai trăm bốn mươi nghìn đồng), còn lại 360.000đ (Ba trăm sáu mươi nghìn đồng) để trên chiếu bạc bị Công an thu giữ. Th giữ trên người Th số tiền 1.760.000đ (Một triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng) tiền đóng hụi không liên quan đến việc đánh bạc.

- Nguyễn Ngọc Ch mang theo 20.340.000đ (Hai mươi triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng) và sử dụng 3.840.000đ (Ba tám trăm bốn mươi nghìn đồng) để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, Ch thắng số tiền 40.000đ (Bốn mươi nghìn đồng) và đã nộp xâu 40.000đ (Bốn mươi nghìn đồng). Khi bị bắt Ch để số tiền 840.000đ (Tám trăm bốn mươi đồng) trên chiếu bạc bị Công an thu giữ. Thu giữ trên người Ch số tiền 19.500.000đ (Mười chín triệu năm trăm nghìn đồng), trong đó có 3.000.000đ Ch sử dụng vào việc đánh bạc và 16.500.000đ (Mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng) không liên quan đến việc đánh bạc.

- Phạm Thị Kim L mang theo và sử dụng 1.600.000đ (Một triệu sáu trăm nghìn đồng) để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, L thắng số tiền 20.000đ (Hai mươi nghìn đồng) và đã nộp xâu số tiền 40.000đ (Bốn mươi nghìn đồng). Khi bị bắt, L để số tiền 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) trên chiếu bạc bị Công an thu giữ. Thu giữ trên người L số tiền 980.000đ (Chín trăm tám mươi nghìn đồng) sử dụng vào việc đánh bạc.

- Trần Thị Th mang theo và sử dụng số tiền 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, Th thắng số tiền 180.000đ (Một trăm tám mươi nghìn đồng) và đã nộp xâu số tiền 40.000đ (Bốn mươi nghìn đồng). Khi bị bắt Th để số tiền 600.000đ (Sáu trăm trăm nghìn đồng) trên chiếu bạc bị Công an thu giữ. Thu giữ trên người Th số tiền 740.000đ (Bảy trăm bốn mươi nghìn đồng) sử dụng vào việc đánh bạc.

Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Đỗ Thị C đã thu xâu được 160.000đ (Một trăm sáu mươi nghìn đồng), Phạm Thị Kim L, Nguyễn Ngọc Ch, Trần Thị Th Th, Trần Thị Th đang tiếp tục đánh bạc thì bị Công an phường B, thành phố B phát hiện bắt quả tang, thu giữ số tiền dùng vào việc đánh bạc là 7.280.000đ (Bảy triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng).

* Vật chứng liên quan đến việc đánh bạc gồm:

- 01 (Một) bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng.

- 7.280.000đ (Bảy triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng) cụ thể:

+ Thu trên chiếu bạc số tiền 2.400.000đ (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng) của các bị cáo dùng vào việc đánh bạc.

+ Thu trên người các bị cáo số tiền dùng vào việc đánh bạc gồm: 980.000đ (Chín trăm tám mươi nghìn đồng) của Phạm Thị Kim L, 740.000đ (Bảy trăm bốn mươi nghìn đồng) của Trần Thị Th, 3.000.000đ (Ba triệu đồng) của Nguyễn Ngọc Ch.

+ 160.000đ (Một trăm sáu mươi nghìn đồng) tiền C thu xâu.

* Thu giữ tài sản không liên quan đến việc đánh bạc hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tạm giữ:

- 1.760.000đ (Một triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng) của Trần Thị Thu Th.

 * Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã thu giữ và giao trả cho chủ sở hữu các tài sản không liên quan đến việc phạm tội gồm:

16.500.000đ (Mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng) 01 (Một) điện thoại Iphone 6S cho Nguyễn Ngọc Ch.

Quá trình điều tra Đỗ Thị C khai nhận kể từ khoảng giữa tháng 8/2020 đến ngày 16/10/2020, C đã sử dụng nhà nêu trên làm địa điểm cho một số đối tượng (không rõ nhân thân lai lịch) tham gia đánh bạc và thu lợi bất chính số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).

Đối với số tiền 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng), Th mượn C để đánh bạc. Khi kết thúc “Chến” thứ nhất Thủy trả lại cho C, C đã đóng tiền hụi nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được.

Tại cáo trạng số 38/CT-VKS-HS ngày 31/12/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố các bị cáo: Đỗ Thị C, Nguyễn Ngọc Ch, Phạm Thị Kim L, Trần Thị Th, Trần Thị Thu Th tội “ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên Tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt các bị cáo:

1/ Đỗ Thị C mức hình phạt tiền từ 25.000.000đ( Hai mươi lăm triệu đồng) đến 30.000.000đ( Ba mươi triệu đồng).

2/ Nguyễn Ngọc Ch mức hình phạt tiền từ 25.000.000đ( Hai mươi lăm triệu đồng) đến 30.000.000đ( Ba mươi triệu đồng).

3/ Phạm Thị Kim L mức hình phạt tiền từ 20.000.000đ( Hai mươi riệu đồng) đến 25.000.000đ( Hai mươi lăm triệu đồng).

4/ Trần Thị Th mức hình phạt tiền từ 20.000.000đ( Hai mươi riệu đồng) đến 25.000.000đ( Hai mươi lăm triệu đồng).

5/ Trần Thị Thu Th mức hình phạt tiền từ 20.000.000đ( Hai mươi riệu đồng) đến 25.000.000đ( Hai mươi lăm triệu đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2] Về pháp luật áp dụng và xác định tội danh:

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với chứng cứ có tại hồ sơ. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 17/10/2020, tại nhà số K1/34A, khu phố 2, phường Bửu Hòa, thành Phố B, tỉnh Đồng Nai do Đỗ Thị C làm chủ, Cúc chuẩn bị 01 bộ bài “Tứ Sắc” và sử dụng địa điểm nêu trên cùng với Phạm Thị Kim L, Nguyễn Ngọc Ch, Trần Thị Th, Trần Thị Thu Th và đối tượng tên Ch (không rõ lai lịch) đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền bằng hình thức chơi bài “Tứ sắc” với số tiền dùng vào việc đánh bạc là 7.280.000đ (Bảy triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng).

Đỗ Thị C là người thực hiện hành vi đánh bạc, cho mượn địa điểm, giúp sức cho các bị cáo đánh bạc và đã thu xâu số tiền 160.000đ (Một trăm sáu mươi nghìn đồng).

Nguyễn Ngọc Ch, Trần Thị Th, Trần Thị Thu Th, Phạm Thị Kim L là người thực hiện hành vi đánh bạc.

Căn cứ khoản 1 điều 321 bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “ Đánh bạc”.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, làm phát sinh các loại tội phạm nên cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm để răng đe giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên Tòa hôm nay các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hồi cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, vai trò của các bị cáo trong vụ án này như sau:

 Đỗ Thị C là người thực hiện hành vi đánh bạc, cho mượn địa điểm, giúp sức cho các bị cáo còn lại đánh bạc và đã thu xâu số tiền 160.000đ (Một trăm sáu mươi nghìn đồng); bị cáo Ch tham gia đánh bạc với số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 3.840.000đ( Ba triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng); Cả 02 bị cáo đều có 01 nhân thân xấu, từng bị Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt về hành vi “ Đánh bạc” theo bản án số 793/2013/HSST ngày 25/12/2013 của Tòa án nhân dân thành phố B nên mức hình phạt của bị cáo C và bị cáo Ch sẽ cao hơn các bị cáo còn lại. Tuy nhiên xét thấy, số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc không lớn, cả hai bị cáo đều lớn tuổi, là lao động chính trong gia đình nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ áp dụng hình phạt cho tiền cho bị cáo C và bị cáo Ch cũng đủ có tác dụng giáo dục răng đe và phòng ngừa chung. Đồng thời cũng thể hiện sự nhân đạo của pháp luật nước ta.

Các bị cáo L, Th, Th tham gia đánh bạc với số tiền sử dụng vào việc đánh bạc như sau: số tiền sử dụng đánh bạc của bị cáo L là 1.600.000đ( Một triệu sáu trăm nghìn đồng); bị cáo Th là 1.200.000đ( Một triệu hai trăm nghìn đồng), bị cáo Th là 640.000đ( Sáu trăm bốn mươi nghìn đồng). Các bị cáo L, Th, Th có thêm tình tiết giảm nhẹ là lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm i khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được áp dụng hình phạt tiền cũng đủ có tác dụng giáo dục răng đe và phòng ngừa chung.

Quá trình điều tra Đỗ Thị C khai nhận kể từ khoảng giữa tháng 8/2020 đến ngày 16/10/2020, C đã sử dụng căn nhà nêu trên làm địa điểm cho một số đối tượng (không rõ nhân thân lai lịch) tham gia đánh bạc và thu lợi bất chính số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).

Đối với số tiền 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng), Th mượn C để đánh bạc. Khi kết thúc “Chến” thứ nhất Th trả lại cho C, C đã đóng tiền hụi nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được.

Căn cứ 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 Hội đồng xét xử buộc bị cáo C nộp sung vào ngân sách nhà nước số tiền 10.600.000đ( Mười triệu sáu trăm nghìn đồng)là phù hợp.

Đối với đối tượng tên Ch (không rõ nhân thân lai lịch) có hành vi đánh bạc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp.

[4] Về biện pháp tư pháp:

- 01 bộ bài tứ sắc các bị cáo dùng để đánh bạc không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

- 7.280.000đ (Bảy triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng) các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên tịch thu sung quỹ nhà nước là phù hợp.

- 1.760.000đ (Một triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng) của Trần Thị Thu Th không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

[5] Về án phí HSST: mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị C, bị cáo Nguyễn Ngọc Ch phạm tội “ Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Thị C 30.000.000đ( Ba mươi triệu đồng).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Ch 30.000.000đ( Ba mươi triệu đồng).

Căn cứ khoản 1 điều 321; điểm s,i khoản 1 Điều 51, điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Kim L, bị cáo Trần Thị Th, bị cáo Trần Thị Thu Th phạm tội “ Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Kim L 25.000.000đ ( Hai mươi lăm triệu đồng).

Xử phạt bị cáo Trần Thị Th 25.000.000đ ( Hai mươi lăm triệu đồng).

Xử phạt bị cáo Trần Thị Thu Th 20.000.000đ ( Hai mươi triệu đồng).

Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Buộc bị cáo Đỗ Thị C phải nộp số tiền thu lợi bất chính là 10.600.000đ ( Mười triệu sáu trăm nghìn đồng).

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tứ sắc các bị cáo sử dụng để đánh bạc.

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền sử dụng đánh bạc 7.280.000đ ( Bảy triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng).

Trả lại cho các bị cáo Trần Thị Thu Th số tiền 1.760.000đ( Một triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).

Theo biên lai thu số 000476 ngày 21/01/2021 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố B và biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 21/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố B.

2. Về án phí HSST: áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

3. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


171
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 54/2021/HSST ngày 26/01/2021 về tội đánh bạc

Số hiệu:54/2021/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/01/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về