Bản án 54/2020/HS-ST ngày 10/06/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM

BẢN ÁN 54/2020/HS-ST NGÀY 10/06/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 10 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam tiến hành mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 57/2020/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2020/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị P, sinh ngày 23 tháng12 năm 1987; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Xuân H (sinh năm: 1961) và con bà: Đoàn Thị P (sinh năm 1969); Chồng: Lê Văn L (sinh năm: 1983), đã ly hôn, bị cáo có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 12/8/2019 bị Công an phường An Xuân xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “đánh bạc”, bằng hình thức phạt tiền. nộp phạt ngày 12/8/2019; Nhân thân: Ngày 15/3/2013 bị Công an phường An Mỹ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “đánh bạc”, bằng hình thức phạt tiền, chấp hành xong ngày 16/4/2013; Ngày 03/11/2016 bị Công an phường An Sơn xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “đánh bạc”, bằng hình thức phạt tiền, chấp hành xong ngày 28/11/2016;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng:

1. Lê Đặng Hà V, sinh năm 1990, trú tại: Khối phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

2. Hoàng Thị Thanh H, tên gọi khác: B, sinh năm 1996, trú tại: Số 5 L, Khối phố M, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

3. Bùi Thị Ngọc T, sinh năm 1990, trú tại: Khối phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Thanh B, sinh năm: 1966, trú tại: Số 05 L, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 26/02/2020, khi gặp nhau và cùng uống trà sữa tại quán trà sữa B, số 05 L, phường A, thành phố T do Hoàng Thị Thanh H làm chủ, Nguyễn Thị P đã bị xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép”, chưa đủ thời gian để được coi là chưa bị xử phạt hành chính nhưng P đã cùng với Bùi Thị Ngọc T, Hoàng Thị Thanh H, Lê Đặng Hà V đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài binh xập xám (binh lon, loại 13 lá bài) tại một căn phòng ở phía sau quán trà sữa. Các đối tượng lấy bộ bài tú lơ khơ 52 lá có sẵn tại quán để chơi với cách thức đánh bạc như sau:

Các đối tượng ngồi theo chiều kim đồng hồ lần lượt là H, T, P, V và thống nhất mỗi người cầm cái 3 ván. Chỉ người cầm cái tranh thắng thua với các người chơi. Mỗi ván người cầm cái ra số tiền cược trong lon là 100.000 đồng và “bói” một con bài bất kỳ để xem ai là người được ưu tiên cược số tiền trong lon trước. Nếu người cầm cái “bói” trúng con bài nước “Cơ” hoặc nước “Rô” thì người chơi ngồi bên phải người cầm cái được ưu tiên cược số tiền trong lon, nếu con bài nước Chuồn thì người chơi đối diện người cầm cái được ưu tiên cược số tiền trong lon và con bài là nước Bích thì người bên trái người cầm cái được ưu tiên cược số tiền trong lon. Người được ưu tiên đặt cược hết tiền trong lon thì mở, những người chơi còn lại mỗi người 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng). Bài được chia ngược theo chiều kim đồng hồ và bắt đầu từ người được ưu tiên cược tiền trong lon.

Khi đặt cược xong, người cầm cái sử dụng bài tú lơ khơ chia đều cho 4 người chơi, mỗi người 13 lá bài, mỗi người tự phân thành 3 chi gồm: Chi đầu 3 lá bài, chi giữa và chi dưới mỗi chi 5 lá bài. Người cầm cái bắt đầu so bài theo chi với những người chơi, chi đầu so với chi đầu, chi giữa so với chi giữa và chi cuối so với chi cuối (trường hợp người cầm cái có chi tương ứng giống của người chơi thì người cầm cái thắng chi đó). Kết quả tính chi theo thứ tự từ nhỏ đến lớn là: Mậu – Dách – Thú – Xám - Sảnh – Thùng - Cù. Trong đó, Mậu (Mậu thầu): Nghĩa là các lá bài trong chi không có kết hợp gì với nhau. Dách (Đôi): Nghĩa là trong chi chỉ có 01 đôi (2 lá bài đồng số). Thú: Nghĩa là trong chi có hai đôi. Xám (Xám chi): Nghĩa là trong chi có 03 lá bài đồng số. Sảnh: Nghĩa là trong chi có 05 lá bài theo thứ tự liên tiếp tạo thành 1 sảnh và không đồng chất. Thùng: Nghĩa là trong chi có 05 lá bài đồng chất (cùng nước cơ, rô, chuồn hoặc bích) nhưng không cần theo thứ tự. Cù (Cù lũ): Nghĩa là trong chi gồm 01 Xám chi và 01 Đôi. Người nào thắng từ 2 chi trở lên thì thắng số tiền đã đặt cược. Các ván tiếp theo tiếp tục cược tương tự, không tăng số tiền cược trong lon và tiền mở thêm cho đến khi hết lượt.

Trường hợp bài có “mậu binh” nghĩa là thuộc một trong các trường hợp sau: Tứ quý: Trong chi 04 lá bài đồng số. Thùng phá sảnh: Trong chi gồm 05 lá bài liên tiếp và đồng chất. Ba chi bài đều là Sảnh hoặc chi trên là Xám, hai chi còn lại là Sảnh. Ba chi bài đều là Thùng. Năm đôi bài liên tiếp theo thứ tự. Sáu đôi bài bất kỳ. 12 lá bài đồng màu đen hoặc đỏ. Sảnh 13 lá từ lá 2 đến lá Xì (A). Người chơi nào có bài “mậu binh” sẽ đương nhiên thắng nhà cái, người cầm cái vẫn tiếp tục phân thắng thua với những người chơi không có bài “Mậu Binh” còn lại. Nếu nhà cái có bài “mậu binh” 3 người chơi còn lại không có thì người cầm cái thắng hết; nếu người chơi có thì hòa nhau. Số tiền thắng thua khi bài những người chơi là Mậu binh vẫn giống như thắng thua khi so từng chi với nhau.

Khoảng 16 giờ 30 phút, Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang thì P, T, H, V đã tham gia đánh bạc được 6 ván (trong đó H cầm cái 3 ván, T cầm cái 3 ván). Mỗi người chơi sẽ góp 100.000 đồng để mua đồ ăn, nước uống. P và những người chơi đánh bạc khai nhận số tiền đánh bạc cụ thể:

- Nguyễn Thị P mang theo số tiền 22.020.000 đồng, P sử dụng số tiền 520.000 đồng để đánh bạc. Tại thời điểm bị Cơ quan Công an phát hiện, P thắng 200.000 đồng, được 720.000 đồng, số tiền này P bỏ vào túi xách. P chưa góp tiền mua nước uống thức ăn phục vụ hành vi đánh bạc. Số tiền 21.500.000 đồng còn lại P để trong túi xách, khi lực lượng Công an đến thì P hoảng sợ nên bỏ số tiền này vào góc phòng gần vị trí ngồi của P.

- Bùi Thị Ngọc T mang theo số tiền 17.900.000 đồng, Trinh sử dụng số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc. Đến thời điểm bị Cơ quan Công an phát hiện, T thua số tiền 800.000 đồng góp tiền mua nước uống thức ăn phục vụ hành vi đánh bạc 100.000 đồng; còn lại 100.000 đồng T nhập chung vào số tiền cá nhân còn lại của mình là 16.900.000 đồng thành tổng cộng 17.000.000 đồng.

- Hoàng Thị Thanh H sử dụng số tiền 100.000 đồng để đánh bạc. Đến thời điểm bị Cơ quan Công an phát hiện, H hòa (không thắng, không thua); số tiền 100.000 đồng H góp mua nước uống thức ăn phục vụ hành vi đánh bạc.

- Lê Đặng Hà V mang theo số tiền 28.200.000 đồng, V sử dụng số tiền 500.000 đồng để đánh bạc. Đến thời điểm bị Cơ quan Công an phát hiện, V thắng 600.000 đồng, góp tiền mua nước uống thức ăn phục vụ hành vi đánh bạc 100.000 đồng; còn lại 1.000.000 đồng V nhập chung vào số tiền cá nhân còn lại của mình là 27.700.000 đồng thành tổng cộng 28.700.000 đồng Như vậy, tổng số tiền mà các đối tượng sử dụng để đánh bạc là: 520.000 đồng + 1.000.000 đồng + 100.000 đồng + 500.000 đồng = 2.120.000 đồng * Tang vật tạm giữ:

- 01 (Một) bộ bài tú lơ khơ, gồm có 52 lá bài.

- 300.000 đồng trong bình thủy tinh để trên bàn.

- 01 điện thoại di động Iphone 8 và 720.000 đồng thu giữ trong túi xách của P.

Số tiền 21.500.000 đồng thu giữ tại sau vị trí ngồi của P.

- 01 điện thoại di động Iphone X và 17.000.000 đồng thu giữ trong túi xách của T.

- 01 điện thoại Iphone 11 Pro max thu giữ trong túi quần của H.

- 01 điện thoại di động Oppo F9, 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro max, số tiền 15.000.000 đồng thu giữ trong túi áo khoác của V. Số tiền 13.700.000 đồng thu giữ trong ví của V.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng 59/CT-VKSTK-HS ngày 13-5-2020 đối với Nguyễn Thị P về tội “Đánh bạc” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt Nguyễn Thị P từ 30 đến 35 triệu đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Kỳ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai của người có nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Nguyễn Thị P đã bị Công an thành phố Tam Kỳ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, thì khoảng 16 giờ, ngày 26/02/2020, tại căn phòng sau quán trà sữa B (do Hoàng Thị Thanh H làm chủ tại số 05 L, khối phố M, phường A, thành phố T), bị cáo P cùng với Bùi Thị Ngọc T, Hoàng Thị Thanh H, Lê Đặng Hà V đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức đánh bài binh xập xám (binh lon). Khi đang đánh bạc thì bị Công an thành phố Tam Kỳ phát hiện bắt quả tang tổng số tiền mà các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 2.120.000 đồng. Bị cáo P mang theo số tiền 22.020.000 đồng, đã sử dụng số tiền 520.000 đồng để đánh bạc và thắng bạc được 200.000 đồng. Hành vi trên của bị cáo P đã phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng số 59/CT-VKSTK-HS ngày 13/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố đối với bị cáo đúng pháp luật.

[2.2] Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Bị cáo P đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép, nên nhận thức rõ việc đánh bạc được thua bằng tiền dưới mọi hình thức đều vi phạm pháp luật, nhưng không chịu ăn năn hối cải, tiếp tục thực hiện hành vi vi phạ m pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương và nếp sống văn hóa, nên cần phải xử phạt đối với bị cáo nhằm cảnh tỉnh bị cáo nhận thức được sai lầm.

Tuy nhiên, xét thấy qúa trình tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; số tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc không lớn, bị cáo đã ly hôn và đang nuôi hai con nhỏ, hiện đang phụng dưỡng bà nội ruột là người có công với cách mạng nên Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo. Do bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng nên áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp nhằm tạo điều kiện để bị cáo nuôi 02 con nhỏ, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta trong xử lý tội phạm.

[2.3] Những vấn đề liên quan vụ án, xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: [2.3.1] Những vấn đề liên quan trong vụ án:

Hành vi đánh bạc trái phép của Bùi Thị Ngọc T, Hoàng Thị Thanh H, Lê Đặng Hà V được thua bằng tiền nhưng số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc chưa đủ 5.000.000 đồng; T, H, V chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc nên cơ quan điều tra đã xử lý hành chính là đúng pháp luật.

Đối với bà Trần Thị Thanh B (sinh năm: 1966) là chủ nhà số 05 L, nơi các đối tượng ngồi đánh bạc trái phép, tuy nhiên bà B không có ở nhà nên không biết, do vậy cơ quan CSĐT không đề cập xử lý là phù hợp.

[2.3.2] Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro Max thu giữ của H; 01 điện thoại di động Iphone X màu trắng của T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F9 của V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 của P không liên quan đến hành vi đánh bạc nên Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu, trả lại cho các đối tượng là phù hợp.

- Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá, các đối tượng dùng để đánh bạc trái phép nên cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với số tiền 2.120.000 đồng các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc (trong đó có 1.820.000 đồng là tiền đánh bạc thu giữ từ P, T,V; 300.000 đồng là số tiền H, T và V tự nguyện chung vào để mua thức ăn nước uống phục vụ cho việc đánh bạc (trong đó có 100.000 đồng là tiền đánh bạc của H)) nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với số tiền 16.900.000 đồng là tiền cá nhân của T, 27.700.000 đồng là tiền cá nhân của V, không liên quan đến hành vi đánh bạc nên cơ quan CSĐT đã trả lại cho T và V là phù hợp. Riêng số tiền 21.500.000 đồng là tiền cá nhân của P không liên quan đến hành vi đánh bạc nên trả lại cho P nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[2.4] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) 2. Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá (vật chứng hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ theo biên bản giao nhận ngày 13/5/2020).

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 2.120.000 đồng (Hai triệu một trăm hai mươi nghìn đồng) mà bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng vào việc đánh bạc.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị P số tiền 21.500.000 đồng (Hai mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng) không liên quan đến hành vi đánh bạc, tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Vật chứng là số tiền 23.620.000 đồng (gồm 2.120.000 đồng các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc và số tiền 21.500.000 đồng của P) hiện được nộp vào tài khoản tạm gửi số 39490909218400000 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ tại Kho bạc nhà nước tỉnh Quảng Nam tại Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 5-5- 2020).

3. Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


1
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 54/2020/HS-ST ngày 10/06/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:54/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Tam Kỳ - Quảng Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:10/06/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về