Bản án 54/2020/HS-ST ngày 01/09/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ - TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 54/2020/HS-ST NGÀY 01/09/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 01 tháng 9 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2020 đối với:

1/ Bị cáo Nguyễn Thanh T, sinh năm 1987. Tại: Bình Dương .

Nơi cư trú: đường N8, phường Hòa Phú, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: không biết chữ; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Huỳnh Thị S; Anh chị em ruột có 03 người (lớn nhất sinh năm 1980 nhỏ nhất sinh năm 1989); Vợ Lê Ngọc Hải Y, sinh năm 1991; Con có 03 người (lớn nhất sinh năm 2006 nhỏ nhất sinh năm 2014); Tiền sự: không:

Nhân thân: Ngày 13/01/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 24 tháng tù về tội Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia. Bị can chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 02/02/2010, chấp hành xong phần án phí và tiền sung công quỹ Nhà nước vào ngày 02/4/2009.

Tiền án: Ngày 21/4/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 18/9/2015; Ngày 28/9/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 08/10/2019.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/4/2020 đến nay có mặt tại tòa

2/ Bị cáo Trần Văn D, sinh năm 1983 Nơi cư trú: ấp 9, xã Vị Trung, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: kinh; tôn giáo:

không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; con ông Trần Văn M và bà Nguyễn Thị P; Anh chị em ruột có 03 người (lớn nhất sinh năm 1978 nhỏ nhất là bị cáo); Tiền sự: không; Tiền án: Không; Nhân thân: chưa bị kết án.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/4/2020 đến nay có mặt tại tòa.

3/ Bị cáo Huỳnh Văn T, sinh năm: 1990.

Nơi cư trú: ấp Vĩnh Tiến, xã Vĩnh Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

Nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; con ông Huỳnh Văn C và bà Nguyễn Thị H; Anh chị em ruột có 03 người (lớn nhất bị cáo nhỏ nhất sinh năm 1998); Con có 01 sinh năm 2012, Tiền sự: không; Tiền án: Không Nhân thân: Ngày 13/01/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 14 tháng tù về tội Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia. Bị can chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 07/7/2009, chấp hành xong phần án phí vào ngày 02/4/2009; Ngày 21/4/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị can chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 18/3/2015, chấp hành xong phần án phí và sung công quỹ Nhà nước vào ngày 16/7/2014; Ngày 08/9/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị can chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 09/3/2018, chấp hành xong phần án phí trong thời gian chấp hành án phạt tù.

Bị cáo bị tạm giam trong vụ án khác có mặt tại tòa.

Bị hại:

1/ Nguyễn Văn L, sinh năm 1998 Địa chỉ: ấp Phú Điền, xã Song Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.

2/ Nguyễn Văn T, sinh năm 1993 Địa chỉ: ấp Phú Long B, xã Phú Quới, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN

 Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh T là đối tượng có 02 tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích. Vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, T đã cùng Trần Văn D và Huỳnh Văn T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại địa bàn huyện Long Hồ như sau:

Vụ thứ nhất:

Sáng ngày 24/3/2020, T điều khiển xe môtô biển số kiểm soát 67K1 - 216.15 chở Huỳnh Văn T từ xã Vị Trung, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang đi tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, T điều khiển xe lưu thông trên Quốc lộ 1A hướng Cần Thơ - Vĩnh Long. Khi đến đoạn đường thuộc ấp Phú Hưng, xã Hòa Phú, huyện Long Hồ thì T nhìn thấy có 01 xe môtô loại Wave Alpha biển số kiểm soát 64E1 - 351.33 của anh Nguyễn Văn L đang đậu cặp lề đường nên T dừng xe. T kêu T ở lại xe 67K1 - 216.15 cảnh giới riêng T tiến đến vị trí xe 64E1 – 351.33 quan sát không có người, T dắt xe 64E1 - 351.33 đi một đoạn sau đó dùng đoản bẻ khóa nhưng không được nên T bứt dây mass nổ máy xe điều khiển chạy đi. T và T đến tỉnh Long An bán xe cho đối tượng tên Anh Hai (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân.

Theo kết luận định giá tài sản số 42/HĐ ngày 26/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: xe môtô loại Wave Alpha biển kiểm soát 64E1 - 351.33 mà Nguyễn Thanh T và Huỳnh Văn T trộm cắp có trị giá là 10.440.000đ (Mười triệu, bốn trăm bốn mươi ngàn đồng).

Vụ thứ hai:

Vào khoảng 15 giờ ngày 14/4/2020, T rủ Trần Văn T đi trộm cắp tài sản thì T đồng ý. T điều khiển xe môtô biển số kiểm soát 67K1 - 216.15 chở Trần Văn T từ xã Vị Trung, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang đi tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, khi đến khu công nghiệp Hòa Phú, huyện Long Hồ thì T và T phát hiện xe mô tô loại Wave Alpha biển số kiểm soát 64B2 - 338.31 của anh Nguyễn Văn Tuyển đang đậu trước cửa hàng quần áo nên T dừng xe. T ở lại xe 67K1 - 216.15 cảnh giới riêng T tiếp cận xe 64B2 - 338.31 quan sát không có ai nên T dùng đoản mang theo để bẻ khóa xe nhưng không được nên T dắt xe ra ngoài. T ngồi trên xe 64B2 - 338.31 để T điều khiển xe 67K1 - 216.15 đẩy đi. Đi được một đoạn thì T bứt dây mass, nổ máy xe cùng T đến tỉnh Long An tìm người mua xe. Đến đoạn đường thuộc huyện Bến Lức, tỉnh Long An thì T bị bắt quả tang cùng tang vật riêng T chạy thoát. Đến ngày 15/4/2020, T bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Hồ bắt giữ tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đồng thời thu giữ 1.090.000đ T lấy từ trong cốp xe 64B2 - 338.31 chưa kịp tiêu xài.

Theo kết luận định giá tài sản số 29/HĐ ngày 08/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Long Hồ kết luận: xe mô tô loại Wave Alpha biển kiểm soát 64B2 - 338.31 mà Nguyễn Thanh T và Trần Văn T trộm cắp có trị giá là 17.375.500đ (Mười bảy triệu, ba trăm bảy mươi lăm ngàn năm trăm đồng).

Quá trình điều tra, T và T còn khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe mô tô loại Wave Alpha tại khu công nghiệp Hòa Phú huyện Long Hồ nhưng không nhớ thời gian và thông tin xe. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Hồ đã tiến hành truy tìm bị hại để xử lý vụ án.

Đối với đối tượng mua xe do Nguyễn Thanh T, Trần Văn T và Huỳnh Văn T trộm cắp chưa xác định được thông tin cụ thể nên chưa tiến hành lấy lời khai, khi làm việc được đối tượng này sẽ tiến hành điều tra, xử lý sau.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thanh T, Trần Văn T và Huỳnh Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Xe mô tô 64B2 – 338.31 đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Hồ thu hồi hoàn trả lại cho anh Nguyễn Văn Tuyển. Bị can Nguyễn Thanh T, Huỳnh Văn T tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Văn Lợi xong.

Ngoài việc thực hiện hành vi trộm cắp tại huyện Long Hồ, Nguyễn Thanh T còn khai nhận đã thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản tại thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, 04 vụ trộm cắp tài sản ở thành phố Cần Thơ và 17 vụ trộm cắp tài sản tại tỉnh Hậu Giang. Trần Văn T khai nhận đã cùng Nguyễn Thanh T thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản ở thành phố Cần Thơ và 10 vụ trộm cắp tài sản tại tỉnh Hậu Giang. Huỳnh Văn T khai nhận cùng Nguyễn Thanh T thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản tại thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

Tại bản Cáo trạng số: 59/CT-VKS, ngày 06 tháng 8 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố các bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Thanh T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm b, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự:

Bị cáo Trần Văn T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự:

Bị cáo Huỳnh Văn T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Ý kiến của các bị cáo tại tòa: Bị cáo T, bị cáo T khai nhận ngày 23/4/2020 theo lời rủ rê của T, 02 bị cáo đã đi tìm tài sản để lấy trộm. Các bị cáo đã trộm 01 xe 64E1- 351.33 cũng trong ngày này các bị cáo đã trộm 01 xe ở Bình Minh. Sau đó 02 bị cáo chạy xe đến Long An bán 02 xe giá 10.500.000 đồng. bị cáo T được chia 4.500.000 đồng. Bị cáo T, bị cáo T khai ngày 15/4/2020 theo lời rủ rê của T, 02 bị cáo đã trộm xe 64B2-338.31 sau đó các bị cáo bị bắt.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Bảo lưu quan điểm bản Cáo trạng đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh T, Trần Văn T, Huỳnh Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” đề nghị áp dụng:

Điểm b, g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; điểm g khoản 1 Điều 52, điều 17, 38, 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T mức án từ 03 năm 06 tháng đến 4 năm tù Điểm b khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 17, 38, 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 17, 38, 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bị cáo Huỳnh Văn T mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét do không có yêu cầu.

Xử lý vật chứng: Giao chiếc xe 67K1 216.15 cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Long Hồ tiếp tục xác minh nguồn gốc xe để xử lý.

Án phí: Buộc mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Lời khai sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Vì các bị cáo ăn năn hối cải.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Tất cả các quyết định, hành vi tố tụng, thủ tục từ giai đoạn phát hiện tội phạm đến truy tố bị cáo. Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự.

[2.]Về nội dung :

[2.1] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đã phù hợp với các tài liệu được thu thập trong hồ sơ vụ án như: Lời khai bị can, lời khai bị hại, lời khai người làm chứng và vật chứng được thu giữ. Đủ căn cứ kết luận các bị cáo Nguyễn Thanh T, Trần Văn T, Huỳnh Văn T đã phạm tội trộm cắp tài sản. Bản cáo trạng số 59 /CT VKS ngày 06/8/2020 cảu Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ đã truy tố các bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản theo điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội.

Tính chất vụ án là nghiêm trọng, các bị cáo là những thanh niên đầy đủ sức khỏe, lý trí nhưng không nhận thức đúng, không bỏ sức lao động chân chính để phục vụ cho nhu cầu bản thân. Trong vụ án nhiều bị cáo đã bị kết án về nhóm tội chiếm đoạt tài sản, nhưng không sửa chữa để trở thành con người có ích cho xã hội, lại tụ tập thành băng nhóm chuyên trộm cắp tài sản của người khác, gây dự luận xấu và làm mất trật tự an toàn xã hội.Do đó phải xử lý nghiêm khắc đối với các bị cáo để lập lại cuộc sống bình yên cho mọi người.

Trong vụ án có đồng phạm việc phân tích vai trò của từng bị cáo để quyết định hình phạt là cần thiết.

Bị cáo Nguyễn Thanh T bị cáo đã nhiều lần bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản. Sau khi chấp hành hình phạt tù bị cáo không sửa chữa mà ngày càng thực hiện hành vi tinh vi hơn, táo bạo hơn và tài sản chiếm đoạt của người khác là nguồn thu nhập chính cho bản thân. Cùng thời gian trộm cắp tài sản trong vụ án này, bị cáo còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ở nhiều địa phương khác và đang bị khởi tố, cho thấy bị cáo đã phạm tội nhiều lần và có tính chất chuyên nghiệp. Trong vụ án này bị cáo là người rủ rê và xử lý tất cả các việc sau khi chiếm đoạt được tài sản. Do đó vai trò của bị cáo cao hơn các bị cáo còn lại.

Đối với bị cáo Huỳnh Văn T bản thân bị cáo đã từng bị kết án về nhóm tội chiếm đoạt tài sản. Mặc dù bị cáo đã được xóa án tích nhưng khi T rủ rê trộm cắp bị cáo đã tham gia với vai trò là người giúp sức và cùng thực hiện, cùng hưởng lợi từ việc chiếm đoạt tài sản. Cho thấy thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo không tốt.

Đối với bị cáo Trần Văn T: Bản thân bị cáo chưa bị kết án, nhưng do thích hưởng thụ trên công sức của người khác nên khi được T rủ rê bị cáo đã tích cực tham gia và giúp sức cho bị cáo T chiếm đoạt tài sản của người khác.

[2.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ

Về tình tiết tăng nặng:

+ Đối với bị cáo Nguyễn Thanh T: Bị cáo đã có tiền án chưa được xóa án.

Tại bản án số 180/2017/HSST ngày 28/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi. Thành phố Hồ Chí Minh xác định tái phạm nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Bị cáo liên tục chiếm đoạt tài sản của người khác để làm nguồn sống cho bị cáo, nên bị cáo phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là tình tiết định khung tăng nặng. Trong vụ án này bị cáo chiếm đoạt 02 xe mô tô mỗi xe điều có giá trị trên 02 triệu đồng, do đó bị cáo còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên.

+ Đối với bị cáo Trần Văn T: Trong vụ án bị cáo cùng với bị cáo T chiếm đoạt 01 xe mô tô. Nhưng hiện bị cáo đang bị khởi tố ở nhiều nơi và số lần chiếm đoạt tài sản trên năm lần. Do đó cần xác định bị cáo phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là tình tiết định khung tăng nặng.

+ Đối với bị cáo Huỳnh Văn T bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai nhận, Bị cáo T, bị cáo T đã tác động gia đình để bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Văn Lợi và anh Lợi xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T và bị cáo T. Bị cáo T có ông ngoại Nguyễn Văn Nhì là liệt sỹ, mẹ bị cáo là bà Nguyễn Thị Phiên có tham gia hoạt động cho chính quyền cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử có xem xét khi quyết định hình phạt.

[2.3] Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét

[2.4] Về xử lý vật chứng: Giao chiếc xe 67K1 216.15 cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Long Hồ tiếp tục xác minh nguồn gốc xe để xử lý.

[2.5] Quan điểm của Kiểm sát viên tại tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.

[2.6] Về án phí: Buộc mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẻ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T, bị cáo Trần Văn T và bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” Căn cứ điểm b, g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 17, 38, 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/4/2020.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Các Điều 17, 38, 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 02 (hai) năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/4/2020.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 38, 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo bị cáo Huỳnh Văn T 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét do không có yêu cầu.

3. Về xử lý vật chứng: Giao chiếc xe 67K1 216.15 cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Long Hồ tiếp tục xác minh nguồn gốc xe để xử lý.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc bị cáo Nguyễn Thanh T, bị cáo Trần Văn T và bị cáo Huỳnh Văn T mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai nơi cư trú.


13
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 54/2020/HS-ST ngày 01/09/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:54/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Hồ - Vĩnh Long
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:01/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về