Bản án 54/2019/HN-ST ngày 21/11/2019 về xin ly hôn và nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THUỶ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

BẢN ÁN 54/2019/HN-ST NGÀY 21/11/2019 VỀ XIN LY HÔN VÀ NUÔI CON

Trong ngày 21/11/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 85/TLST-HN ngày 03/4/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 677/2019/QĐST – HNGĐ ngày 04/11/2019 về việc “Xin ly hôn, nuôi con” giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Quốc K sinh năm 1982 Địa chỉ: Lê Hồng Phong, phường Trà Nóc, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Lan TH, sinh năm 1982 Địa chỉ: Lê Hồng Phong, phường Bình Thủy, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn ông Trần Quốc K trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị Lan TH tự nguyện đi đến hôn nhân vào năm 2003 có đăng ký K hôn tại Ủy ban nhân dân phường An Thới, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Quá trình chung sống ông bà có 02 con chung là cháu Trần THện Quý sinh ngày 29/8/2003 và Trần Ngọc Hoàn Mỹ sinh ngày 24/11/2013.

Ông bà chung sống thời gian đầu hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, bà TH không chăm lo gia đình, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung. ông bà đã có thời gian sống ly thân nhưng vẫn không giải tỏa mâu thuẫn, hàn gắn hạnh phúc gia đình được nên ông yêu cầu xin ly hôn với bà TH.

Về con chung: ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con, không yêu cầu bà TH cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn là bà Nguyễn Thị Lan TH đã được Tòa án triệu tập để giải quyết nhưng bà TH không có mặt nên việc hoà giải không tiến hành được. Tòa án đã thực hiện việc triệu tập và thông báo xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng bà TH vẫn tiếp tục vắng mặt, nên vụ án được đưa ra xét xử công khai.

Tại phiên tòa hôm nay, - Ông Trần Quốc K vẫn giữ nguyên quan điểm yêu cầu xin ly hôn với bà Nguyễn Thị Lan TH, yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu bà TH cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Phía bị đơn bà Nguyễn Thị Lan TH vắng mặt không rõ lý do.

Đi diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy phát biểu ý kiến:

- Về việc chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ các quy định pháp luật, những người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

- Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp thuận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát không phát biểu gì thêm. Đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào K quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Ông Trần Quốc K và bà Nguyễn Thị Lan TH tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký K hôn nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp thuộc ngành luật Hôn nhân và Gia đình điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[2] Xét cuộc hôn nhân giữa ông K và bà TH có phát sinh mâu thuẫn, ông bà có tìm biện pháp hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng vẫn không giải thỏa mâu thuẫn, đoàn tụ gia đình được. Hin nay ông K xin ly hôn. Nhận thấy mâu thuẫn giữa ông bà đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó THết nghĩ nên chấp thuận yêu cầu xin ly hôn của ông Trần Quốc K với bà Nguyễn Thị Lan TH là phù hợp.

[3] Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: ông Trần Quốc K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con, không yêu cầu bà TH cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử nhận thấy, tại bản tự khai ngày 16/7/2019 và biên bản làm việc ngày 17/7/2019 cháu Quý có nguyện vọng được sống cùng cha khi cha mẹ ly hôn. Hai cháu THện Quý và Hoàn Mỹ đang sống cùng mẹ nhưng bà TH thường xuyên vắng nhà không chăm lo tốt cho các cháu, nên giao hai chái THện Quý và Hoàn Mỹ cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Ông K không yêu cầu bà TH cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện của đương sự nên chấp thuận.

[4] Về chia tài sản: Ông K cho rằng ông bà không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Ông xác định không có nợ chung. Tuy nhiên do bà TH vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến của bà TH về tài sản chung và nợ chung. Do đó tách phần tài sản chung và nợ chung ra giải quyết thành vụ án khác khi đương sự có yêu cầu và có đủ cơ sở chứng minh.

[5] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ: 

QUYẾT ĐỊNH

- Điều 28; Điều 35; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 232, Điều 262, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình.

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Trần Quốc K với bà Nguyễn Thị Lan TH.

2. Về con chung: giao cháu Trần Q,(Trần Q) sinh ngày 29/8/003 và Trần Ngọc Hoàn M sinh ngày 24/11/2013 cho ông Trần Quốc K trực tiếp nuôi dưỡng. Ông K không yêu cầu bà TH cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bà TH, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Tách ra giải quyết thành vụ án khác khi đương sự có yêu cầu và có đủ cơ sở chứng minh.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông Trần Quốc K phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí ông K đã nộp theo biên lai thu số 009742 ngày 03/4/2019 tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ thành án phí. Ông K đã nộp xong án phí hôn nhân sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư ngụ để xin Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được Thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


35
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 54/2019/HN-ST ngày 21/11/2019 về xin ly hôn và nuôi con

Số hiệu:54/2019/HN-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Bình Thuỷ - Cần Thơ
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 21/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về