Bản án 54/2019/HNGĐ-ST ngày 17/07/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 54/2019/HNGĐ-ST NGÀY 17/07/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Trong ngày 17 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 168/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:102/2019/QĐXX-ST ngày 12/6/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2019/QĐ-HPT ngày 28 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Trần Thị L, sinh ngày 06/5/1994.

Địa chỉ cư trú: xóm T, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Làm ruộng. (Có mặt)

- Bị đơn: Anh Hồ Đình K - sinh ngày 10/10/1992.

Địa chỉ cư trú: xóm T, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

Nghề nghiệp: Làm ruộng. (Vắng mặt lần 2 không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Chị Trần Thị L và anh Hồ Đình K cưới nhau vào tháng 3/2014, trước khi tiến tới hôn nhân, anh chị có quá trình tìm hiểu, hôn nhân tự nguyện, tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán, được sự đồng ý của hai gia đình và mọi người chứng kiến, nhưng do lúc đó bận rộn nên anh chị chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn. Ngày 25/9/2014 chị L, anh K mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 38 ngày 25/9/2014. Sau khi cưới và kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 6 năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị L trình bày là do tìm hiểu nhau không kỷ, khi sống chung thì thấy tính tình vợ chồng không phù hợp, nên vợ chồng đã cải cọ, xử sự thiếu tôn trọng nhau dẫn đến vợ chồng mất tình cảm với nhau, hôn nhân rạn nứt. Do muốn níu kéo hôn nhân chị cố gắng nhẫn nhịn để vợ chồng tiếp tục sống với nhau, nhưng càng níu kéo bao nhiêu thì mâu thuẫn xẩy ra ngày càng trầm trọng bấy nhiêu. Mỗi lúc mâu thuẫn thì anh K đã đánh đập chị L, dùng những lời nói rất khó nghe gây áp lực ảnh hưởng đến tâm lý của chị L. Mâu thuẫn xẩy vợ chồng tự hòa nhưng không đưa lại kết quả gì, không sống được với nhau vợ chồng đã sống ly thân, cắt đứt các quan hệ kể từ tháng 12 năm 2015 cho đến nay. Chị L xác định đã mất hết tình cảm, tình yêu đối với chồng, hôn nhân đã thực sự đã đổ vỡ, dù có hòa giải đến đâu thì vợ chồng cũng không thể đoàn tụ, mâu thuẫn đã kéo dài và trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được như mong muốn, chị L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hồ Đình K.

- Về quan hệ con chung:Vợ chồng có với nhau 01 con chung cháu Hồ Trần Nhật V (Giới tính: nữ), sinh ngày 13/10/2014. Từ ngày vợ chồng sống ly thân con chung do chị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh K không có trách nhiệm gì đối với con chung. Trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn, chị L có nguyện vọng được nuôi con chung, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về quan hệ tài sản: Chị Trần Thị L không yêu cầu tòa án giải quyết.

Đối với b ị đơn anh Hồ Đình K, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng yêu cầu chị L, anh K có mặt tại tòa án để giải quyết vụ án, nhưng anh không hợp tác để giải quyết, cố tình vắng mặt, Tòa án không thu thập được lời khai, ý kiến, trình bày của anh K để lưu tại hồ sơ. Song qua các tài liệu, chứng cứ do chị L cung cấp, xác minh tình trạng hôn nhân, con chưa thành niên tại đ ịa phương thì về quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung giữa chị L, anh K, cơ bản đúng như chị L trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

-Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện qui định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng đối với chị Trần Thị L và anh Hồ Đình K yêu cầu anh chị có mặt tại tòa án để giải quyết vụ án, nhưng anh K không chấp hành, không hợp tác. Vì vậy, Tòa án đã lập biên bản theo quy đ ịnh của pháp luật Tố tụng dân sự làm cơ sở để giải quyết vụ án.

Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập phiên tòa lần thứ nhất đối với các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất nguyên đơn chị Trần Thị L có mặt, bị đơn anh Hồ Đình K vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử đã quyết đ ịnh hoãn phiên tòa trong đó ấn định về thời gian tiếp tục xét xử vụ án. Tòa án tiếp tục tống đạt, niêm yết hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa và G iấy triệu tập phiên tòa lần thứ hai đối với chị L, anh K. Tại phiên tòa lần thứ hai nguyên đơn chị L có mặt, bị đơn anh K tiếp tục vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Đ iều 227, khoản 3 Đ iều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bị đơn anh Hồ Đình K.

- Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Điều kiện kết hôn, trình tự thủ tục tiến tới hôn nhân giữa chị Trần Thị L và anh Hồ Đình K đảm bảo đúng quy định của pháp luật, hôn nhân giữa chị L và anh K là hoàn toàn tự nguyện. Trước khi cưới anh chị có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 38/2014 ngày 25/9/2014, qua đó thấy hôn nhân giữa chị L và anh K là hôn nhân hợp pháp.

Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh K đã xảy ra ngày càng trầm trọng và sâu sắc. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng tính tình vợ chồng không hợp, không tìm được sự hòa hợp trong hôn nhân, do mâu thuẫn vợ chồng đã cự cãi, va chạm xử sự thiếu tôn trọng nhau dẫn đến mất hết tình cảm với nhau, mâu thuẫn xẩy ra ngày càng trầm trọng dẫn đến hôn nhân đổ vỡ. Sau khi các bên sống ly thân cả vợ lẫn chồng đều không có ý thức níu kéo hôn nhân để đoàn tụ mà đã cắt đứt các quan hệ vợ chồng. Qua đó cho thấy hôn nhân giữa chị L và anh K thực sự đổ vỡ, tan rã, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Trần Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hồ Đình K là có căn cứ, cần sự chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị.

[2] Về quan hệ con chung: Từ ngày vợ chồng sống ly thân con chung của vợ chồng được chị L trực tiếp nuôi dưỡng, mặc dù không có sự hổ trợ của anh K về việc nuôi con chung, nhưng chị L đã nuôi con tốt, dạy con ngoan, con chung phát triển tốt về nhiều mặt, thể hiện người mẹ có trách nhiệm cao đối với con chung. Do vậy chị L đề nghị giao con chung cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là đúng, đảm bảo quyền lợi con chung của vợ chồng, nên cần chấp nhận về việc đề nghị giao nuôi con của chị Trần Thị L

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuô i con: Chị Trần Thị L không yêu cầu anh Hồ Đình K cấp dưỡng nuôi hai con chung, nên cần tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh K cho đến lúc có yêu cầu.

[3] Về quan hệ tài sản: Chị Trần Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên miễn xét.

[4] Về án phí: Buộc chị Trần Thị L nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56; 81; 82 và Đ iều 83 Luật hôn nhân và Gia đình;

Xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị L được ly hôn anh Hồ Đình K.

2. Về quan hệ con chung: G iao con chung cháu Hồ Trần Nhật V(G iới tính: nữ), sinh ngày 13/10/2014 cho chị Trần Thị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến lúc con chung đủ tuổ i trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Hồ Đình K cho đến lúc có yêu cầu.

Anh Hồ Đình K người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 4 Đ iều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

- Buộc: Buộc chị Trần Thị L phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được tính trừ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm chị đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003647 ngày 10/4/2019 tại Chi cục thi hành án Yên Thành, chị Trần Thị L đã nộp đủ án phí.

4. Quyền kháng cáo; Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại trụ sở UBND xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An và nơi cư trú cuối cùng của bị đơn.


33
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 54/2019/HNGĐ-ST ngày 17/07/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:54/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Thành - Nghệ An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:17/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về