Bản án 54/2019/HNGĐ-ST ngày 08/05/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 54/2019/HNGĐ-ST NGÀY 08/05/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 08 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trực Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 40/2019/TLST-HNGĐ ngày 25/3/2019 về việc xin ly hôn theo Q định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/4/2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Vi Thị L, sinh năm: 1992.

Nơi ĐKHKTT: Xóm 6, thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.

Địa chỉ: Tổ T, đường N, phường 12, T, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Anh Vũ Đình Q, sinh năm: 1987.

Địa chỉ: Xóm 6, thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa: Các đương sự có đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 20/3/2019, bản tự khai, nguyên đơn là chị Vi Thị L trình bày:

Chị và anh Vũ Đình Q đăng ký kết hôn ngày 06/10/2010 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hợp tính nhau. Từ tháng 8 năm 2017 vợ chồng đã sống ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được nữa nên đề nghị được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Vũ Phương T - Sinh ngày 16/01/2012 và Vũ Thị Khánh H - Sinh ngày 04/6/2014 hiện cả hai con đang ở với anh Q. Khi ly hôn chị đề nghị được nuôi cả hai con chung hoặc con Vũ Thị Khánh H và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng. Nếu anh Q không đồng ý thì chị đồng ý để anh Q nuôi cả hai con chung và nhận cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Về tài sản, công nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/4/2019, anh Vũ Đình Q trình bày: Anh và chị Vi Thị L đăng ký kết hôn ngày 06/10/2010 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Từ tháng 8 năm 2017 vợ chồng đã sống ly thân, chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, không ai quan tâm tới ai, anh và gia đình đã khuyên bảo và nhiều lần gọi chị L về nhưng chị L không về.

Anh có biết việc chị Vi Thị L có đơn xin ly hôn và đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải… nhưng do anh là người theo đạo Thiên chúa không đến Tòa án làm việc.

Nay chị L có yêu cầu ly hôn anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Vũ Phương T - Sinh ngày 16/01/2012 và Vũ Thị Khánh H - Sinh ngày 04/6/2014 hiện cả hai con đang ở với anh Q. Khi ly hôn anh đề nghị được nuôi cả hai con chung và yêu cầu chị L cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Về tài sản, công nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa của Thẩm phán và HĐXX đúng quy định của BLTTDS. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm chỉnh quy định về quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn theo quy định tại các Điều 70; 71 BLTTDS;

Bị đơn mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có mặt để hòa giải và không xuất trình chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là vi phạm quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại các Điều 70; 72 BLTTDS.

Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án khi các đương sự có đề nghị xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 238 BLTTDS.

Về nội dung: Xét thấy vợ chồng chị L, anh Q đã sống ly thân từ lâu, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51, 56 và Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Vi Thị L.

Về con chung: Chấp nhận yêu cầu được nuôi dưỡng con chung của anh Q, giao cho anh Q nuôi dưỡng con chung của vợ chồng, buộc chị L cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo quy định của pháp luật;

Về tài sản, công nợ: Đương sự không đề nghị giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị L phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục trong việc tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Vũ Đình Q nhưng anh Q vẫn vắng mặt không có lý do là vi phạm quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các Điều 70; 72 BLTTDS.

Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án khi các đương sự có đề nghị xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 238 BLTTDS

[2] Về tình cảm: Chị Vi Thị L và anh Vũ Đình Q đăng ký kết hôn vào ngày 06/10/2010 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chính là không hợp nhau về tính cách, quan điểm sống nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2017. Nay chị L có đơn yêu cầu ly hôn.

Sau khi chị L có đơn khởi kiện xin ly hôn, TAND huyện Trực Ninh đã thông báo nội dung khởi kiện xin ly hôn của chị L cho anh Q nhưng anh Q không có mặt tại Tòa án để làm việc.

Theo yêu cầu của chị L, TAND huyện Trực Ninh đã tiến hành thu thập chứng cứ.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/4/2019, anh Vũ Đình Q trình bày: Anh và chị Vi Thị L đăng ký kết hôn ngày 06/10/2010 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống.. Từ tháng 8 năm 2017 vợ chồng đã sống ly thân, chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, không ai quan tâm tới ai, gia đình đã khuyên bảo và nhiều lần gọi chị L về nhưng chị L không về.

Anh có biết việc chị Vi Thị L có đơn xin ly hôn và đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng do anh là người theo đạo Thiên chúa nên không đến Tòa án làm việc. Nay chị L có yêu cầu ly hôn anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy: Giữa chị L và anh Q đã phát sinh mâu thuẫn từ lâu, hiện tại đã sống ly thân, tình cảm vợ chồng không còn, vì vậy quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ, mục đích của hôn nhân không đạt được, không thể đoàn tụ được với nhau được nữa nên việc chị L xin ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật nên được HĐXX chấp nhận.

[3] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Vũ Phương T - Sinh ngày 16/01/2012 và Vũ Thị Khánh H - Sinh ngày 04/6/2014 hiện cả hai con đang ở với anh Q .

Xét yêu cầu của các đương sự về việc nhận nuôi con chung HĐXX thấy: Hiện tại hai con chung đang ở với anh Q từ khi vợ chồng sống ly thân, bản thân chị L cũng đồng ý để anh Q nuôi cả hai con chung và nhận cấp dưỡng theo quy định của pháp luật nên để đảm bảo việc học tập, chăm sóc giáo dục con chung cần giao cho anh Q có trách nhiệm nuôi dưỡng con chung của vợ chồng, chị L có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo quy định của pháp luật là phù hợp.

[4] Về tài sản, khoản nợ chung: Đương sự không đề nghị giải quyết nên không xem xét. Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng không thể hiện chị L và anh Q có tài sản, khoản nợ chung nên không xem xét.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị L nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 51; 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

1. Xử ly hôn giữa chị Vi Thị L và anh Vũ Đình Q.

2. Về con chung: Giao cho anh Vũ Đình Q có trách nhiệm nuôi dưỡng con chung là Vũ Phương T - Sinh ngày 16/01/2012 và Vũ Thị Khánh H - Sinh ngày 04/6/2014 hiện cả hai con đang ở với anh Q. Chị Vi Thị L có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng) kể từ tháng 5/2019 đến khi con chung trưởng thành, tự lập.

Chị Vi Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

3. Án phí: Chị Vi Thị L nộp 300.000 đồng án phí dân sự và 300.000đ án phí cấp dưỡng. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị L đã nộp theo biên lai thu tiền số 04954 ngày 25/3/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Chị L còn phải nộp 300.000đ.

Chị Vi Thị L; anh Vũ Đình Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo các Điều 6, Điều7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 54/2019/HNGĐ-ST ngày 08/05/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:54/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trực Ninh - Nam Định
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:08/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về