Bản án 54/2018/HNGĐ-ST ngày 01/03/2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG

BẢN ÁN 54/2018/HNGĐ-ST NGÀY 01/03/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 0 1 tháng 3 năm 201 8 , tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vị Thanh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 256/2017/TLST-H N G Đ ngày 30 tháng 11 năm 2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/201 8/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên toà số: 19/2018/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 02 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Thúy Q.

Địa chỉ: khu vực Bình Hiếu, phường Vĩnh Tường, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Ngô Thạch S.

Địa chỉ: khu vực 4, phường V, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 30/11/2017 và quá trình thu thập chứng cứ, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Thúy Q trình bày: Chị và anh Ngô Thạch S chung sống với nhau từ năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thuận Hưng, huyện Long Mỹ. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, tới năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân: do anh S cờ bạc gây nợ, chị phải đứng ra giải quyết, ngoài ra anh S còn hay ghen tuông vô cớ, nên vợ chồng thường xuyên cãi vã và đã sống ly thân nhau từ tháng 8/2017 cho đến nay. Nay xét tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh Ngô Thạch S.

Con chung: vợ chồng có 02 con chung tên Ngô Huỳnh Thúy V (giới tính nữ), sinh ngày 22/10/2012 và Ngô Huỳnh Thiện Nh (giới tính: nam), sinh ngày 04/9/2014. Hiện 02 cháu đang sống chung với chị. Sau ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Không yêu cầu anh S cấp dưỡng.

Tài sản: tự thoả thuận. Không yêu cầu giải quyết. Nợ chung: không có. Không yêu cầu giải quyết.

Quá trình thu thập chứng cứ bị đơn anh Ngô Thạch S tại bản tự khai lập ngày 08/12/2017 khai: đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Huỳnh Thị Thúy Q. Về con chung anh đồng ý giao cho vợ nuôi, anh không cấp dưỡng. Tài sản chung, nợ chung anh chưa thể hiện ý kiến.

Tại phiên toà chị Huỳnh Thị Thúy Q trình bày giữ như lời khai yêu cầu trước đây. Anh Ngô Thạch S vắng mặt nên không phát biểu yêu cầu.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà:

- Về tố tụng. Việc thu thập chứng cứ từ khi thụ lý vụ án của Thẩm phán, mở và điều khiển phiên toà của Hội đồng xét xử tại phiên toà là tuân thủ đúng pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng (nguyên đơn) chấp hành đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên toà không lý do là không chấp hành đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho chị Huỳnh Thị Thúy Q được ly hôn với anh Ngô Thạch S. Giao cho chị Quỳnh được nuôi 02 con chung. Không buộc anh S cấp dưỡng do chị Q không yêu cầu. Tài sản chung, nợ chung không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Quan hệ pháp luật tranh chấp. Căn cứ theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, Toà xác định mối quan hệ pháp luật tranh chấp cần phải giải quyết trong vụ án là “tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Thẩm quyền giải quyết. Bị đơn trong vụ án là anh Ngô Thạch S hiện tại có nơi cư trú tại khu vực 4, phường V, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Theo quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Vị Thanh.

[3]. Xét xử vắng mặt. Anh Ngô Thạch S là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt.

[4]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Thúy Q và anh Ngô Thạch S chung sống với nhau từ năm 2012, có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Thuận Hưng, huyện Long Mỹ, nên hôn nhân của anh chị được công nhận hợp pháp. Quá trình chung sống có mâu thuẫn, chị Q khởi kiện đến Tòa án xin ly hôn, anh S đồng ý. Toà xét thấy: Hôn nhân của anh chị dù được xác lập trên cơ sở tự nguyện, nhưng quá trình chung sống không hạnh phúc. Khi có mâu thuẫn anh chị không tự giải quyết được, dẫn đến ly thân nhau. Thời gian ly thân anh chị cũng không có biện pháp nào để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Tại phiên toà chị Q khai không còn tình cảm với anh Sơn và cương quyết xin ly hôn, anh S tại phiên tòa vắng mặt, nhưng trước đó thể hiện ý kiến đồng ý ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình cảm của anh chị đối với nhau không còn. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Toà chấp nhận yêu cầu của khởi kiện chị Q, cho chị và anh S được ly hôn.

[5]. Con chung: Anh chị có hai đứa con chung tên Ngô Huỳnh Thúy V (giới tính nữ), sinh ngày 22/10/2012 và Ngô Huỳnh Thiện Nh (giới tính: nam), sinh ngày 04/9/2014. Hai bên không tranh chấp, cùng thống nhất giao cho chị Q nuôi. Xét thỏa thuận của hai bên là tự nguyện, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa chấp nhận yêu cầu của chị Q giao cho chị được trực tiếp nuôi hai cháu V, Nh sau khi ly hôn.

[6]. Về cấp dưỡng: theo khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Tuy nhiên do chị Q chưa yêu cầu, xét yêu cầu này của chị Q là tự nguyện nên Toà chấp nhận chưa buộc anh S cấp dưỡng trong cùng vụ án này.

[7]. Tài sản, nợ chung: Chị Q khai không có, anh S chưa ý kiến, nên Tòa không xem xét giải quyết trong cùng vụ án.

[8]. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc chị Q có trách nhiệm chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo mức không có giá ngạch.

[9]. Đối với phát biểu quan điểm về tố tụng và đề nghị về nội dung giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà. Hội đồng xét xử thống nhất và chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35, 39, 147, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự . K hoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81; Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Danh mục mức án phí, lệ phí kèm theo.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Thúy Q được ly hôn với anh Ngô Thạch S.

- Về con chung: giao hai cháu Ngô Huỳnh Thúy V (giới tính nữ), sinh ngày 22/10/2012 và Ngô Huỳnh Thiện Nh (giới tính: nam), sinh ngày 04/9/2014 cho chị Huỳnh Thị Thúy Q được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Ngô Thạch S chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Q chưa yêu cầu. Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

- Về tài sản, nợ chung: chưa xem xét giải quyết trong cùng vụ án. Do chưa có yêu cầu.

- Về án phí: buộc chị Huỳnh Thị Thúy Q chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chuyển 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị Q đã nộp theo biên lai thu số 0012640 ngày 30/11/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh thành án phí. Chị Q không phải nộp thêm.

- Quyền kháng cáo: các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


61
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 54/2018/HNGĐ-ST ngày 01/03/2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:54/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Vị Thanh - Hậu Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:01/03/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về