Bản án 541/2017/HNGĐ-ST ngày 14/08/2017 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 541/2017/HNGĐ-ST NGÀY 14/08/2017 VỀ LY HÔN

Ngày 14 tháng 8 năm 2017 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Quận 7 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 146/2017/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2017 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 81/2017/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2017, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Võ Thị T, sinh năm 1968; địa chỉ: Đường số 10, phường Q, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Lưu Chí D, sinh năm 1969; địa chỉ: Đường số 10, phường Q, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn, bà Võ Thị T trình bày:

Bà Võ Thị T và ông Lưu Chí D qua một thời gian tìm hiểu thì cả hai tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 1989, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào năm 1989 (Giấy chứng nhận kết hôn số 073/89, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận B, Thành phố Hồ chí Minh cấp ngày 13 tháng 6 năm 1989).

Vợ chồng sống hạnh phúc được 06 tháng thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do có sự bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong cách nuôi dạy con cái. Mặc dù bà đã nhiều lần tìm cách hàn gắn mâu thuẫn nhưng không được, nay tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên nay bà T yêu cầu.

- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Lưu Chí D.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Lưu Gia Linh (nữ), sinh ngày 20/7/1990 và Lưu Gia Huy (nam) sinh ngày 06/01/1999 đã thành niên.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Võ Thị T trình bày không có.

Bà Võ Thị T xác định việc ly hôn của vợ chồng ông bà không nhằm trốn tránh nghĩa vụ nào khác.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về việc không tiến hành được phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác… nhưng ông Lưu Chí D vắng mặt không có lý do, nên Tòa án không lấy được lời khai và không tiến hành hoà giải được. Vì vậy Tòa án vẫn tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Quận 7 phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ các bước tiến hành tố tụng đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015: về thẩm quyền thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, tiến hành hòa giải, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và các đương sự. Về thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: về phiên tòa sơ thẩm.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn ông Lưu Chí D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Căn cứ các điều Căn cứ Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[2] 1.Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

[3] Bà Võ Thị T, khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với ông Lưu Chí D, địa chỉ: Đường số 10, phường Q, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là tranh chấp về ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7 theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[4] Bị đơn ông Lưu Chí D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[5] 2. Về yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

[6] Về quan hệ hôn nhân: Qua thời gian tìm hiểu thì bà Võ Thị T và ông Lưu Chí D cả hai tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 1989, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào năm 1989 (Giấy chứng nhận kết hôn số 073/89, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận B, Thành phố Hồ chí Minh, cấp ngày 13 tháng 6 năm 1989).

[7] Theo lời trình bày của nguyên đơn: Vợ chồng sống hạnh phúc được 06 tháng thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do ông D sống thiếu trách nhiệm với gia đình, mặt khác ông và có sự bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong cách nuôi dạy con cái. Mặc dù bà đã nhiều lần tìm cách hàn gắn mâu thuẫn nhưng không được, nay tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có, hiện nay cả hai đang sống ly thân.

[8] Tại văn bản trả lời kết quả xác minh của Công an phường Q, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung: Hiện ông D và bà T đang sống tại địa chỉ Đường số 10, phường Q, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.

[9] Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về việc không tiến hành được phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác… nhưng ông Lưu Chí D vắng mặt không có lý do, nên Tòa án không lấy được lời khai và không tiến hành hoà giải được. Căn cứ theo quy định tại Khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thì ông D đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình, nên phải chịu hậu quả theo quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận lời khai của bà T, và các chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án.

[10] Do quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông D khó có khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc giải quyết cho ly hôn là cần thiết. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Võ Thị T.

[11] Về con chung: Có 02 con chung tên Lưu Gia L (nữ), sinh ngày 20/7/1990 và Lưu Gia H (nam) sinh ngày 06/01/1999 đã thành niên.

[12] Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

[13] Về nợ chung: Bà Võ Thị T trình bày không có.

[14] Về án phí: Bà Võ Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số AA/2012/07636 ngày 11 tháng 4 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39,Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Áp dụng Luật Thi hành án Dân sự 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014;

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị T được ly hôn với ông Lưu Chí D. Giấy chứng nhận kết hôn số 073/89, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận B, Thành phố Hồ chí Minh, cấp ngày 13 tháng 6 năm 1989 không còn giá tị pháp lý.

1.2 Về con chung: Có 02 con chung tên Lưu Gia L (nữ), sinh ngày 20/7/1990 và Lưu Gia H (nam) sinh ngày 06/01/1999 đã thành niên.

1.3 Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

1.4 Về nợ chung: Không có.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số AA/2012/07636 ngày 11 tháng 4 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Các bên đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.


100
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về