Bản án 537/2019/HNGĐ-ST ngày 28/05/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 537/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/05/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 28 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 442/2017/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2017, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2037/2019/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1977 Địa chỉ: Đường K, phường P, Quận M, Thành phố H.

Bị đơn: Ông Faubel Jean Marc D, sinh năm 1954 Quốc tịch: Pháp Địa chỉ: Causseran 467000 Mauroux - France (Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Đ trình bày:

Bà và ông Faubel Jean Marc D chung sống với nhau từ năm 2000 nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian chung sống được 8 năm, đến năm 2009 thì xảy ra mâu thuẫn. Do ông Faubel Jean Marc D thường xuyên xúc phạm bà. Đến giữa năm 2011 bà và ông Faubel Jean Marc D không còn sống chung. Bà xác định tình cảm không còn, nên bà khởi kiện lên Tòa án. Do không đăng ký kết hôn nên bà yêu cầu được Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà và ông Faubel Jean Marc D.

Về con chung: Qúa trình chung sống bà và ông Faubel Jean Marc D có một con chung tên Faubel Hoàng K, sinh ngày 01/3/2011. (theo giấy khai sinh số 93, quyển số 01/2011 ngày 28/3/2011). Sau khi Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà và ông Faubel Jean Marc D bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Từ khi sinh ra đến nay trẻ Faubel Hoàng K trực tiếp sống chung với bà Nguyễn Ngọc Đ tại Việt Nam. Ông Faubel Jean Marc D có cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 300 euro/tháng với hình thức chuyển khoản trực tiếp cho bà Nguyễn Ngọc Đ. Từ tháng 12/2017 đến nay ông Faubel Jean Marc D không còn cấp dưỡng nuôi con chung. Nay bà yêu cầu ông Faubel Jean Marc D cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 500 euro tại thời điểm xét xử sơ thẩm cho đến khi con đủ 18 tuổi. Do hiện nay trẻ Faubel Hoàng K ngày càng lớn nhu cầu thiết yếu để trẻ sinh sống và học tập để phát triển tốt và bà không đủ chi phí để nuôi dưỡng con chung.

Tài sản chung: Bà Đ khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Bà Đ khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 21/8/2018 ông Faubel Jean Marc D gửi văn bản trả lời cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Được nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Đ có văn bản xác nhận vào ngày 11/12/2018 với nội dung: Các bản trình bày ngày 21/8/2018 là chữ ký và chữ viết của ông Faubel Jean Marc D.

Các văn bản trình bày của ông Faubel Jean Marc D có nội dung như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Ông xác nhận ông Faubel Jean Marc D và bà Nguyễn Ngọc Đ sống chung với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn. Sau một thời gian chung sống thì xảy ra mâu thuẫn như bà Nguyễn Ngọc Đ đã trình bày.

Về con chung: Ông xác nhận ông và bà Nguyễn Ngọc Đ có một con chung tên Faubel Hoàng K, sinh ngày 01/3/2011. Theo giấy khai sinh số 93, quyển số 01/2011 ngày 28/3/2011 tại Việt Nam.

Về yêu cầu cấp dưỡng cho con Faubel Hoàng K như bà Nguyễn Ngọc Đ yêu cầu là 500 euro/1 tháng ông không đồng ý với lý do lương hưu của ông hiện tại chỉ có 683 euro/1tháng. Ông đồng ý cấp dưỡng cho con chung mỗi tháng 80 euro đến 100 euro. Các chi phí tại trường học cho bé Faubel Hoàng K đều do Chính phủ Pháp chi trả và bé cũng nhận được sự giúp đỡ của Chính phủ Pháp về việc theo dõi sức khỏe. Ông cũng cho rằng hàng tháng ông cũng đã gửi chi phí cấp dưỡng cho bé Faubel Hoàng K nhưng không thường xuyên với hình thức chuyển tiền trực tiếp vào tài khoản của bà Nguyễn Ngọc Đ.

Về tài sản chung: Ông không có ý kiến Về nợ chung: Không có Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:

Những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự: Về yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: bà Nguyễn Ngọc Đ và ông Faubel Jean Marc D không đăng ký kết hôn; nay bà Nguyễn Ngọc Đ đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông bà. Bà Nguyễn Ngọc Đ yêu cầu được trực tiép nuôi dưỡng con chung là bé Faubel Hoàng K, sinh ngày 01/3/2011 và yêu cầu ông Faubel Jean Marc D cấp dưỡng nuôi con 500 euro/1tháng. Về tài sản chung bà Nguyễn Ngọc Đ xác nhận không có, nợ chung không có. Do đó, đề nghị hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Ngọc Đ và ông Faubel Jean Marc D.

Về con chung: hiện tại bé Faubel Hoàng K đang sống cùng với bà Nguyễn Ngọc Đ, để tạo môi trường sống ổn định cho bé đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cho bà Nguyễn Ngọc Đ tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Faubel Jean Marc D cấp dưỡng nuôi con chung là 500 euro/1tháng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

1/ Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Nguyễn Ngọc Đ đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh có đơn xin ly hôn với ông Faubel Jean Marc D hiện đang sinh sống tại Pháp, bà Nguyễn Ngọc Đ và ông Faubel Jean Marc D chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 28, Điều 37, Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bà Nguyễn Ngọc Đ và ông Faubel Jean Marc D tham gia phiên tòa. Vào lúc 08 giờ 30 phút ngày 28/5/2019, bà Nguyễn Ngọc Đ có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Ông Faubel Jean Marc D đã được Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành ủy thác tư pháp thông báo thời gian xét xử nói trên nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Faubel Jean Marc D, bà Nguyễn Ngọc Đ theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.

[3] Về yêu cầu của nguyên đơn:

Bà Nguyễn Ngọc Đ và ông Faubel Jean Marc D chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Theo quy định tại Điều 9, Điều 14, Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014Nghị quyết số 35/2000/NQ- QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì bà Nguyễn Ngọc Đ và ông Faubel Jean Marc D không đăng ký kết hôn thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Tại hồ sơ thể hiện, bà Nguyễn Ngọc Đ và ông Faubel Jean Marc D đều thừa nhận ông bà không đăng ký kết hôn theo pháp luật Việt Nam nên quan hệ giữa bà Nguyễn Ngọc Đ và ông Faubel Jean Marc D không được công nhận là vợ chồng. Nay bà Nguyễn Ngọc Đ yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà và ông Faubel Jean Marc D thì Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu này là có cơ sở, phù hợp với đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa nên chấp nhận.

Về con chung: Bà Nguyễn Ngọc Đ và ông Faubel Jean Marc D cùng xác nhận có một con chung tên Faubel Hoàng K, sinh ngày 01/3/2011, hiện nay trẻ đang sống cùng bà Nguyễn Ngọc Đ do bà Đ chăm sóc, nuôi dưỡng, Hội đồng xét xử xét thấy viêc giao con cho ai nuôi là nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho trẻ nên cần xét đến hoàn cảnh kinh tế của mỗi bên. Hiện bé Faubel Hoàng K hiện đang sống tại Việt Nam, theo học tại trường Quốc tế Pháp tại Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh. Xét, tại ý kiến của trẻ Faubel Hoàng K muốn được tiếp tục sống chung với bà Nguyễn Ngọc Đ. Nhằm để tạo điều kiện cho trẻ có nơi ở ổn định, giáo dục con chung phát triển lành mạnh về thể chất, tinh thần, trí tuệ và đạo đức nên việc giao con cho bà Nguyễn Ngọc Đ tiếp tục nuôi dưỡng sẽ không làm xáo trộn việc học tập và sinh hoạt của trẻ.

Về cấp dưỡng nuôi con : Tại thời điểm xét xử bà Nguyễn Ngọc Đ yêu cầu ông Faubel Jean Marc D cấp dưỡng nuôi con chung là 13.010.000 (mười ba triệu không trăm mười nghìn) đồng (tương ứng với 500 euro)/1tháng cho đến khi trẻ trưởng thành. Hội đồng xét xử xét, bé Faubel Hoàng K hiện đang theo học tại trường Quốc tế Pháp tại Quận 9, theo hồ sơ thể hiện bé bị chứng tăng động và co giật, tuy đã được Chính phủ Pháp hỗ trợ chi phí về trường học và y tế nhưng xét ngoài chi phí học tập và y tế còn có các chi phí thiết yếu cho nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống và sinh hoạt cho trẻ. Vì vậy, việc bà Nguyễn Ngọc Đ yêu cầu là 13.010.000 (mười ba triệu không trăm mười nghìn) đồng (tương ứng với 500 euro)/1tháng cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng bé với mức sống của thời điểm hiện tại là có cơ sở chấp nhận.

Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung: Không có.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà Nguyễn Ngọc Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về án phí cấp dưỡng nuôi con : Ông Faubel Jean Marc D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn đồng).

[5] Về quyền kháng cáo: bà Nguyễn Ngọc Đ và ông Faubel Jean Marc D có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 28, Điều 37, Điều 40, Điều 147, Khoản 1 Điều 228, Điều 262, Điều 266, Điều 273, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Ngọc Đ.

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Ngọc Đ và ông Faubel Jean Marc D.

2. Về con chung: Giao con chung tên Faubel Hoàng K, sinh ngày 01/3/2011 cho bà Nguyễn Ngọc Đ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên.

3. Về cấp dưỡng nuôi con : Ông Faubel Jean Marc D cấp dưỡng nuôi con 13.010.000 (mười ba triệu không trăm mười nghìn) đồng (tương đương 500 euros)/1 tháng. Kể từ ngày bà Nguyễn Ngọc Đ có đơn yêu cầu thi hành án.

Kể từ ngày người yêu cầu có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất do các bên tự thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 đối với số tiền chậm thực hiện tương đương với thời gian chậm thi hành án.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ này, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

4. Về tài sản chung: Không có.

5. Về nợ chung: không có.

6. Về án phí:

Bà Nguyễn Ngọc Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà Nguyễn Ngọc Đ đã nộp theo biên lai thu tạm tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2017/0047710 ngày 20 tháng 9 năm 2017 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Ngọc Đ đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Về án phí cấp dưỡng : Ông Faubel Jean Marc D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

7. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Ngọc Đ được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Ông Faubel Jean Marc D có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


16
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về