Bản án 53/2020/HNGĐ-ST ngày 15/09/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 53/2020/HNGĐ-ST NGÀY 15/09/2020 VỀ LY HÔN 

Ngày 15 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 170/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2020 về ”Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2020/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tố D, sinh năm 2000; địa chỉ: Tổ 12, ấp P, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (có đơn xin vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng X, sinh năm 1994; địa chỉ: Ấp T, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 27-4-2020 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tố D trình bày:

Chị và anh Nguyễn Hoàng X tự nguyện chung sống từ năm 209; có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Chung sống hạnh phúc đến tháng 02-2020 thì phát sinh mâu thuẫn do anh X không tôn trọng chị, có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, chị khuyên nhưng anh X không thay đổi từ đó vợ chồng thường xuyên gây gỗ, anh X đánh chị. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu được ly hôn với anh X.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn, anh Nguyễn Hoàng X trình bày:

Anh thừa nhận lời trình bày của chị D về thời gian chung sống, đăng ký kết hôn. Anh thừa nhận giữa anh và chị D có mâu thuẫn về tiền bạc, vợ chồng thường gây gỗ, hiện đã sống ly thân. Anh và chị D không gặp nhau để bàn bạc vấn đề đoàn tụ cũng như không có giải pháp đoàn tụ. Chị D xin ly hôn, anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết và tại phiên Toà hôm nay chị D, anh X đã được cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại các điều 177, 178 của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng chị D có đơn xin xét xử vắng mặt; anh X vắng mặt không lý do xem như từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt chị D, anh X. Anh X phải chịu hậu quả của việc không giao nộp đầy đủ chứng cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại Điều 91, Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị D, anh X trình bày thống nhất anh chị chung sống với nhau từ năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, Huyện D nên xác định là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chị D cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do anh X có quan hệ tình cảm với người khác, không lo lắng cho gia đình từ đó vợ chồng thường gây gỗ. Quá trình giải quyết anh X xác định vợ chồng có mâu thuẫn nhưng nguyên nhân là do kinh tế, ngoài ra chị D đi đâu làm gì cũng không nói lại với anh từ đó vợ chồng gây gỗ, anh không đồng ý ly hôn, anh yêu cầu Tòa án tạo điều kiện cho anh và chị D được đoàn tụ. Xét thấy, anh X và chị D đã sống ly thân từ tháng 02-2020 cho đến nay, anh X thừa nhận vợ chồng không bàn bạc được giải pháp đoàn tụ, quá trình giải quyết Tòa án tống đạt hợp lệ mời anh X tham gia phiên hòa giải nhiều lần nhưng anh X vắng mặt không có lý do, không có thiện chí để đoàn tụ vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị D và anh X đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D là phù hợp.

[3] Về con chung: Không có.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí: Chị D phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Tố D đối với anh Nguyễn Hoàng X.

Chị D và anh X không còn quyền và nghĩa vụ vợ chồng.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí:

Chị Nguyễn Thị Kim Diệu phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị D đã nộp theo biên lai thu số 0004406 ngày 05-5-2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. (Đã nộp xong)

5. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

6. Các đương sự được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.


57
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 53/2020/HNGĐ-ST ngày 15/09/2020 về ly hôn

Số hiệu:53/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu - Tây Ninh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:15/09/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về