Bản án 53/2019/HSST ngày 04/09/2019 về tội cướp giật tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 53/2019/HSST NGÀY 04/09/2019 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 04 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2019/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tiểu H (tên gọi khác: Q), sinh ngày 04 tháng 02 năm 2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 326/88 Đường ĐVB, Phường S, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh C (đã chết) và bà Lương Thị Thùy T, sinh năm: 1980; chung sống như vợ chồng với bà Nguyễn Thị Thanh T’, sinh năm 2000 và chưa có con chung; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam từ ngày 12/3/2019. “Có mặt”

- Bị hại: Ông Trần Quốc B, sinh năm 1978. Nơi cư trú: 2D Đường M, Phường O, Quận 4, TP. Hồ Chí Minh “ Vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 11/3/2019, Nguyễn Tiểu H đang ngồi chơi tại tiệm game bắn cá số 511 Đường ĐVB, Phường L, Quận 4 thì được một người tên gọi T’’ Bô R (chưa rõ lai lịch) điều khiển xe gắn máy Vision màu đỏ, biển số 64E1-416.68 đến rủ H đi chơi. Khi T’’ chở H lưu thông trên Đường V, Phường O, Quận 4 (hướng ra đường M) thì T’’ phát hiện ông Trần Quốc B đang ngồi ngay cửa quán Cà phê CX, địa chỉ số 2D Đường V, Phường O, Quận 4, ông B đang cầm điện thoại di động hiệu Samsung J7 Pro, màu xanh để sử dụng. T’’ hỏi H có thấy người đàn ông sử dụng điện thoại không thì H quay sang lề đường bên trái thấy ông B đang sử dụng điện thoại thì hiểu ý định của T’’ là cướp giật điện thoại của ông B.

Sau đó, T’’ điều khiển xe gắn máy chạy ngược chiều lên lề Đường V, từ phía sau áp sát bên phải ông B để H dùng tay trái giật điện thoại trên tay phải của ông B. Ông B liền truy hô “Cướp...cướp...”, T’’ tăng ga chở H bỏ chạy ra hướng đường M rẽ trái ngược chiều ra đường KH tẩu thoát về hướng cầu KT sang Quận 7. Ông B tiếp tục chạy bộ đuổi theo và tri hô, khi đến ngã ba đường M– KH thì có ông Nguyễn HA và Nguyễn HL là cán bộ Công an Quận 4 đang tuần tra, nghe tiếng tri hô và thấy ông B đang đuổi theo xe T’’ điều khiển chở H tẩu thoát nên hỗ trợ ông B truy đuổi theo. Khi đến ngã tư đường NHT - Đường N, phường TH, Quận 7 thì ông An đuổi kịp, ép ngã xe của T’’, H. T’’, H bỏ xe tiếp tục chạy bộ nên ông HA tiếp tục truy đuổi theo H, đến trước số 33 đường NHT, phường TH, Quận 7 thì bắt giữ được H và thu giữ của H 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Pro, màu xanh của ông Trần Quốc B. Sau đó, ông HL hỗ trợ ông HA đưa H và tang vật thu được về Công an Phường O, Quận 4 để làm việc. Còn T’’ bỏ chạy bộ tẩu thoát được.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Tiểu H khai nhận hành vi phạm tội như trên, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình điều tra, ngày 09/4/2019, Cơ quan điều tra Công an Quận 4 xác minh người có tên thường gọi là T’’ Bô R có tên thật là TTT, sinh năm 1986. Tại Cơ quan điều tra Công an Quận 4, TTT khai nhận không cùng H đi cướp giật tài sản vào đêm ngày 11/3/2019 và không sử dụng xe gắn máy hiệu Vision màu đỏ mang biển số 64E1-416.68. Cơ quan điều tra Công an Quận 4 đã cho H nhận dạng TTT, H nhận dạng và xác định TTT là người điều khiển xe gắn máy hiệu Vision màu đỏ mang biển số 64E1-416.68 chở H đi cướp giật tài sản vào đêm ngày 11/3/2019, nhưng qua đối chất với H, TTT không thừa nhận. Cơ quan điều tra Công an Quận 4 làm việc với NVL, là bạn quen biết của H và TTT; tiến hành đối chất, nhận dạng giữa NVL và TTT, thì NVL cho biết TTT là người điều khiển xe gắn máy hiệu Vision màu đỏ (không rõ biển số) đến tiệm game bắn cá tại số 511 Đường ĐVB, Phường L, Quận 4 chở H đi nhưng không rõ TTT chở H đi đâu, có cùng thực hiện hành vi cướp giật tài sản với nhau hay không thì NVL không biết. Qua tài liệu thu thập, Cơ quan điều tra Công an Quận 4 chưa đủ cơ sở để xác định TTT đồng phạm với Nguyễn Tiểu H trong vụ án “Cướp giật tài sản” nêu trên nên chưa có đủ căn cứ để xử lý đối với TTT. Cơ quan điều tra Công an Quận 4 tiếp tục xác minh điều tra, khi có đủ cơ sở xử lý sau.

Tại bản kết luận số 35/KL-HĐĐG ngày 20/3/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Quận 4 kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Pro, màu xanh, dung lượng 32GB, Imei 1: 356202094011261, Imei 2: 356203094011269, đã qua sử dụng, có giá trị: 2.300.000 (Hai triệu ba trăm nghìn) đồng.

Tại Cáo trạng số 61/CT-VKS ngày 17/7/2019, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 đã truy tố bị cáo Nguyễn Tiểu H về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Tiểu H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi cướp giật tài sản cùng với một nam thanh niên mới quen trong tiệm game vì cả hai chơi game chung, bị cáo chỉ biết người đó tên là T’’ (không rõ nhân thân lai lịch của T’’) nhưng khi bị cáo được T’’ rủ đi chơi thì bị cáo đồng ý liền. T’’ đã điều khiển xe gắn máy chở bị cáo lưu thông đến Đường V, Phường O, Quận 4 thì T’’ hỏi bị cáo có thấy người đàn ông đang cầm điện thoại trên tay không, bị cáo trả lời thấy và T’’ hỏi bị cáo có cướp không thì bị cáo nói có nên T’’ đã điều khiển xe gắn máy chở bị cáo áp sát bị hại để bị cáo giật điện thoại của bị hại, bị cáo là người trực tiếp giật điện thoại và cất giữ điện thoại trong người cho đến khi bị Công an truy bắt được và giữ người cùng tang vật.

Bị hại ông Trần Quốc B mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa hôm nay.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Tiểu H về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù; miễn hình phạt bổ sung do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Vật chứng đã trả lại cho bị hại nên không có gì giải quyết.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan điều tra Công an Quận 4, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các biên bản tự khai, biên bản lấy lời khai bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai những người làm chứng cùng các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 11/3/2019 tại trước cửa quán Cà phê CV địa chỉ số 2D Đường V, Phường O, Quận 4, một thanh niên (không rõ lai lịch) điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vision màu đỏ, biển số 64E1- 416.68 chở bị cáo Nguyễn Tiểu H ngồi sau. Người thanh niên (không rõ lai lịch) điều khiển xe áp sát để bị cáo H dùng tay trái cướp 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Pro, màu xanh của ông Trần Quốc B, có trị giá 2.300.000 (Hai triệu ba trăm nghìn) đồng, sau đó nhanh chóng bỏ chạy. Hành vi của bị cáo Nguyễn Tiểu H đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 đối với bị cáo Nguyễn Tiểu H là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Tiểu H đã thực hiện là rất táo bạo, liều lĩnh và nguy hiểm cho xã hội, bị cáo dùng thủ đoạn nguy hiểm là sử dụng xe gắn máy để cướp giật tài sản, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng cần có mức án thật nghiêm để xử phạt bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi lượng hình có xem xét tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Xét, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về phần bồi thường dân sự:

Bị hại ông Trần Quốc B mặc dù đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì ông B đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là chiếc điện thoại di động và không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên về phần bồi thường dân sự không có gì giải quyết.

[5] Về xử lý vật chứng vụ án:

- 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision, màu đỏ mang biển số 64E1- 416.68, có số khung: RLHJF5808EY053039, số máy: JF58E-0052324. Qua xác minh được biết biển số chiếc xe trên do anh LNH đứng tên sở hữu nhưng số khung và số máy không trùng khớp với số khung và số máy trên xe. Qua xác minh Công an xã TL, huyện TB, tỉnh VL xác nhận anh LNH không có cư ngụ tại địa phương, bỏ đi đâu không rõ. Xác minh số khung và số máy thực tế trên xe gắn máy trên thì được biết chiếc xe có biển số là 65L1-134.73 do chị TKT là chủ sở hữu. Vào ngày 10/3/2019, chị TKT bị mất chiếc xe mang biển số 65L1-134.73 tại khu vực phường PT, Quận 7. Cơ quan điều tra Công an Quận 4 đã bàn giao xe gắn máy trên cho Cơ quan điều tra Công an Quận 7 điều tra, giải quyết theo thẩm quyền nên không xem xét giải quyết.

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Pro, màu xanh, dung lượng 32GB, Imei 1: 356202094011261, Imei 2: 356203094011269, đã qua sử dụng. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc điện thoại này cho ông Trần Quốc B là chủ sở hữu, ông B đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không có gì giải quyết.

- 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Tiểu H và hình mộc dấu của Công an Phường O, Quận 4 bên trong có 01 áo sơ mi dài tay màu đen; 01 quần Jeans dài màu đen, là trang phục bị cáo H mặc đi cướp giật tài sản và tại phiên tòa bị cáo đã từ chối nhận lại. Xét, trang phục trên không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiểu H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Nguyễn Tiểu H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 3 năm 2019.

Tiếp tục giam bị cáo để bảo đảm thi hành án, thời hạn tạm giam là 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

- Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

+ Tịch thu, tiêu hủy 01 áo sơ mi dài tay màu đen; 01 quần Jeans dài màu đen. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/8/2019 giữa Cơ quan Điều tra Công an Quận 4 và Chi cục thi hành án dân sự Quận 4).

- Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Tiểu H phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

- Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


34
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 53/2019/HSST ngày 04/09/2019 về tội cướp giật tài sản

Số hiệu:53/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 4 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 04/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về