Bản án 53/2019/HNGĐ-ST ngày 18/12/2019 về tranh chấp xin ly hôn và quyền nuôi con chung khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 53/2019/HNGĐ-ST NGÀY 18/12/2019 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN VÀ QUYỀN NUÔI CON CHUNG KHI LY HÔN

Ngày 18 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 248/2019/TLST-HNGĐ, ngày 11/09/2019, về “Tranh chấp xin ly hôn và quyền nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14/11/2019, giữa các đương sự:

-Ngun đơn: Chị Lê Thị Ngọc Th.

Đa chỉ: p BL, xã LPh, huyện LPh , tỉnh Sóc Trăng.

-Bị đơn: Anh Lý Ngọc Th.

Đa chỉ: p BL, xã LPh, huyện LPh , tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 8 năm 2019 và các tài liệu khác có trong hồ sơ, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc Th (chị Th) trình bày: Năm 2002 chị Th với anh Lý Ngọc Th (anh Th) chung sống với nhau không có đăng ký kết hôn. Chị Th với anh Th sống hạnh phúc đến tháng 7 năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, cuộc sống chung không hạnh phúc và sống ly thân từ tháng 02/2016 cho đến nay. Trong quá trình chung sống chị Th với anh Th có 02 con chung là: Lý Thị Anh Khoa, sinh ngày 24/8/2003 và Lý Hoàng Quân, sinh ngày 09/4/2008 hiện đang sống chung với chị Th. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Th và anh Th không có tài sản chung và không có thiếu nợ chung.

Nay chị Th yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Long Phú giải quyết.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Th xin được ly hôn với anh Th.

- Về con chung: Yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con chung.

-Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, vị đại diên Viện Kiểm Sát phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử tiến hành nghị án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục tố tụng. Đối với những người Thm gia tố tụng thì trước và tại phiên tòa hôm nay bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luât tố tụng dân sự, không Tham gia tố tụng theo triệu tập của tòa án. Tại phiên tòa sơ thẩm Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục tại phiên tòa. Về nội dung, Vị đại diện Viện kiểm sát nêu quan điểm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

-Mặc dù Tòa án đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Th hợp lệ, nhiều lần nhưng tại phiên tòa hôm nay, anh Th vẫn vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay, chị Th không yêu cầu hoãn phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn do đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, từ những ý kiến, yêu cầu trên. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt anh Lý Ngọc Th.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện giải quyết ly hôn của chị Lê Thị Ngọc Th đối với anh Lý Ngọc Th:

-Từ Sau khi thụ lý, trong quá trình chuẩn bị xét xử Tòa án đã nhiều lần tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng như, thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và quyết định định đưa vụ án ra xét xử cho anh Th, nhưng anh Th không trả lời thông báo thụ lý, không có mặt theo giấy triệu tập để cung cấp lời khai, cũng như không Tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, do đó Tòa án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.

-Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và sự thừa nhận của đương sự tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định chị Lê Thị Ngọc Th và anh Lý Ngọc Th sinh sống với nhau như vợ chồng từ năm 2002, không có đăng ký kết hôn, anh chị có hai con chung là Lý Thị Anh Khoa sinh năm 1992 và Lý Hoàng Quân, sinh năm 2008. Căn cứ vào khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân gia đình năm 2000; điểm b khoản 3 Nghị Quyết số 35/2000/QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc Hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì quan hệ chung sống giữa anh Th và chị Th không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

-Về con chung: Chị Th yêu cầu được trực tiếp nuôi các con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét điều kiện, hoàn cảnh thực tế chị Th đã không còn chung sống với anh Th gần 03 năm nay, trong khoảng thời gian này con chung của anh, chị sống với chị Th, cuộc sống của các cháu đã ổn định về mọi mặt, việc Thy đổi điều kiện, hoàn cảnh sống sẽ làm ảnh hưỡng đến tâm lý, tình cảm, sự phát triển bình thường về mọi mặt của các cháu. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung cho chị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là cần thiết và hợp lý. Đối với ý kiến của chị Th về việc không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, con của chị Th và anh Th là các cháu Lý Thị Anh Khoa, sinh ngày 24/8/2003 và Lý Hoàng Quân, sinh ngày 09/4/2008 do chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, mặc dù chị Th có công việc làm và có thu nhập, nhưng công việc không ổn định, thu nhập không cao nếu không có sự chia sẻ, gánh vác trách nhiệm nuôi con chung của anh Th sẽ làm ảnh hưỡng đến điều kiện sinh hoạt trong cuộc sống và học tập của các cháu. Do đó, để đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của con chung cần buộc anh Th có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

-Về tài sản chung và nợ chung: Chị Th xác định chị và anh Th không có thiếu nợ ai, tài sản chung anh, chị không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3] Về quyền kháng cáo bản án: căn cứ vào các Điều 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

* Áp dụng: khon 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào khoản 1 Điều 11, Điều 92, 94 Luật hôn nhân gia đình năm 2000; điểm b khoản 3 Nghị Quyết số 35/2000/QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc Hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án; Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

* Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Lê Thị Ngọc Th và anh Lý Ngọc Th là vợ chồng.

2. Về quyền nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lê Thị Ngọc Th được quyền trực tiếp nuôi dưỡng các con chung của chị Lê Thị Ngọc Th và anh Lý Ngọc Th là các cháu Lý Thị Anh Khoa, sinh ngày 24/8/2003 và Lý Hoàng Quân, sinh ngày 09/4/2008. Anh Lý Ngọc Th có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho các cháu Lý Thị Anh Khoa và Lý Hoàng Quân mỗi cháu là 695.000 (Sáu trăm chín mươi năm nghìn) đồng một tháng từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi các cháu tròn 18 tuổi. Anh Lý Ngọc Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị Ngọc Th xác định không có thiếu nợ chung, tài sản chung không có không yêu cầu nên, không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Ngọc Th phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân, gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009323 ngày 11 tháng 9 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Anh Lý Ngọc Th phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

5. Về quyền kháng cáo bản án: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hôm nay thì thời gian kháng cáo được tính từ ngày tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.


10
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 53/2019/HNGĐ-ST ngày 18/12/2019 về tranh chấp xin ly hôn và quyền nuôi con chung khi ly hôn

Số hiệu:53/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Phú - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 18/12/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về