Bản án 53/2019/HNGĐ-ST ngày 02/08/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 53/2019/HNGĐ-ST NGÀY 02/08/2019 VỀ LY HÔN

Trong ngày 02 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh BPhước; xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý thụ lý số: 256/HNGĐ-ST, ngày 14 tháng 6 năm 2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 12/2019/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2019; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1983 (có mặt)

2. Bị đơn: Anh Nguyễn B, sinh năm 1983 (vắng mặt)

ĐKHK tại: Thôn 6, xã M, huyện Bù Đăng, tỉnh BPhước.

Hiện cư trú tại: thôn A, xã BMinh, huyện Bù Đăng, tỉnh BPhước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 09/02/2019 quá trình thụ lý vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị T trình bày: Chị T và anh Nguyễn Văn B tự nguyện chung sống, kết hôn năm 2006, tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BNghĩa, huyện BLục, tỉnh H; thời gian đầu chung sống với nhau hạnh phúc nhưng không được bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn; trầm trọng nhất là năm 2018; nguyên nhân mâu thuẫn là do anh B tham gia chơi cờ bạc, đánh đề, rượu chè, mỗi lần đi chơi về lại đánh đập chị T trầm trọng, có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác; không thể tiếp tục chung sống chị T đã thuê nhà ra ở riêng, sống ly thân. Hiện nay, tình cảm không còn nên chị T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng giải quyết cho chị T được ly hôn với anh Nguyễn B.

Về con chung: Trong thời gian chung sống có 03 con chung là cháu Nguyễn Thị Ánh N, sinh ngày 18/9/2007, Nguyễn Yến C, sinh ngày 20/02/2010 và Nguyễn Thị Thùy L, sinh ngày 14/01/2016. Sau khi ly hôn chị T có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Thị Thùy L, sinh ngày 14/01/2016; giao hai cháu lớn là Nguyễn Thị Ánh N, sinh ngày 18/9/2007, Nguyễn Yến C, sinh ngày 20/02/2010 cho anh B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; vì hiện nay chị không có nhà ở, không có thu nhập ổn định nên không thể trực tiếp nuôi dưỡng cả ba cháu.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Không có.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, qua bản tự khai anh Nguyễn Văn B trình bày: Anh B thừa nhận về thời gian chung sống, kết hôn với chị T; mâu thuẫn gia đình là có; nay anh Bđồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T.

Về con chung: anh B thừa nhận có 03 con chung là các cháu Nguyễn Thị Ánh N, sinh ngày 18/9/2007, Nguyễn Yến C, sinh ngày 20/02/2010 và Nguyễn Thị Thùy L, sinh ngày 14/01/2016. Sau khi ly hôn anh B có nguyện vọng được nuôi 02 cháu là Nguyễn Ánh N và Nguyễn Yến C không đặt ra vấn đề cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: Không có.

Các tài liệu, chứng cứ: Nguyên đơn nộp: giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản gốc) và ba giấy khai sinh của ba con chung (bản sao); ngoài ra không giao nộp gì thêm. Bị đơn không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Văn B tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn năm 2006, tại Ủy ban nhân dân BNghĩa, huyện BLục, tỉnh H; phù hợp với bản gốc giấy chứng nhận kết hôn đã được chị T giao nộp hợp pháp tại Tòa án. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Văn Blà hợp pháp.

Về mâu thuẫn gia đình: Theo lời khai của chị T và người làm chứng xác định được trong quá trình chung sống chị T và anh B có phát sinh mâu thuẫn, kéo dài trong nhiều năm; trầm trọng nhất là từ năm 2018 đến nay, anh B có hành vi đánh chị T, ngoại tình với người phụ nữ khác; tham gia chơi cờ bạc làm cho kinh tế gia đình sa sút. Đối với anh B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, qua bản tự khai anh B cũng thừa nhận về tình trạng hôn nhân và muân thuẫn gia đình; nay anh B đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T. N vậy, mâu thuẫn giữa chị T và anh B là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.

[2] Về con chung: Các đương sự thống nhất có 03 con chung, là các cháu Nguyễn Thị Ánh N, sinh ngày 18/9/2007, Nguyễn Yến C, sinh ngày 20/02/2010 và Nguyễn Thị Thùy L, sinh ngày 14/01/2016. Nguyện vọng của các đương sự sau khi ly hôn, chị T có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu L. Anh B có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu N và cháu C; không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Hi đồng xét xử thấy: Nguyện vọng của cháu N và cháu C mong muốn được chung sống với mẹ; tuy nên xét thấy hiện nay chị T không có nhà ở, phải thuê phòng trọ, làm nghề cạo hạt điều tại doanh nghiệp tư nhân, thu nhập thấp, không ổn định; về tài sản chưa chia, hiện nay anh B đang ở nhà; giao cả ba cháu cho chị T nuôi dưỡng là khó khăn, gánh nặng rất lớn cho chị T; để các cháu tiếp tục ổn định cuộc sống, sinh hoạt nên chấp nhận ý kiến của chị T và anh Bình; giao hai cháu N và C cho anh B nuôi dưỡng, giao cháu L cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp; không đặt ra vấn đề cấp dưỡng.

[3] Về tài sản chung: tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về nợ chung: không có.

[5] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 131 của Bộ luật tố tụng dân sự buộc nguyên đơn chị T phải nộp 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo luật định.

[6] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Nguyễn B.

[2]Về con chung: Giao các cháu Nguyễn Thị Ánh N, sinh ngày 18/9/2007, Nguyễn Yến C, sinh ngày 20/02/2010 cho anh Btrực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên. Giao cháu Nguyễn Thị Thùy L, sinh ngày 14/01/2016 cho chi T trực tiếp trông non, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu thành niên; không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom, cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

[3] Về tài sản chung: Chị T và anh Btự thoả thuận, không yêu cầu toà án giải quyết.

[4] Về nợ chung: Không có.

[5] Về án phí: Nguyên đơn chị Phạm Thị T phải nộp 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp trước là 300.000đ, theo biên lai thu tiền số 0009484, ngày 13/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[6] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 53/2019/HNGĐ-ST ngày 02/08/2019 về ly hôn

Số hiệu:53/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bù Đăng - Bình Phước
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 02/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về