Bản án 53/2019/DS-ST ngày 26/11/2019 về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 53/2019/DS-ST NGÀY 26/11/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN

Ngày 26 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 139/2019/TLST-DS ngày 18/7/2019 về việc Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 233/2019/QĐXXST-DS ngày 25/10/2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Việt S, sinh năm 1977. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm 1, thị trấn C, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Chí Th, sinh năm 1978. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 12 tháng 7 năm 2019 cùng các văn bản kèm theo, nguyên đơn ông Nguyễn Việt S trình bày: Vào ngày 01 tháng 02 năm 2018, ông Nguyễn Chí Th có mua thiết bị viễn thông tại cửa hàng của ông, thỏa thuận mua bán trả góp, có làm hợp đồng mua bán và ông Th có ký tên vào hợp đồng mua bán ngày 01/02/2018, thời gian trả góp là 03 tháng, số tiền trả góp mỗi tháng là 2.100.000 đồng, tổng số tiền ông Th phải trả góp trong 03 tháng là 6.300.000 đồng. Từ khi mua đến nay ông Th không thanh toán nợ đúng theo thỏa thuận. Nay ông yêu cầu ông Nguyễn Chí Th trả cho ông số tiền còn nợ là 6.300.000 đồng.

Ngày 25/11/2019, do bận công việc nên ông Nguyễn Việt S nộp đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, không tham gia tố tụng tại phiên tòa.

Ông Nguyễn Chí Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng đều vắng mặt không lý do, đồng thời không cung cấp lời khai, chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Việc ông Nguyễn Việt S khởi kiện ông Nguyễn Chí Th yêu cầu trả số tiền nợ mua thiết bị viễn thông (điện thoại), đây là tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Chí Th đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, ông Nguyễn Việt S có yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 2 Điều 277 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Nguyễn Chí Th và ông Nguyễn Việt S là có căn cứ.

[2] Xét về nội dung tranh chấp thì ông Nguyễn Việt S là chủ cửa hàng bán điện thoại di động Hoàng S, đã bán thiết bị viễn thông cho ông Nguyễn Chí Th. Ngày 01/02/2018, các bên có ký hợp đồng mua bán, theo hợp đồng ông Nguyễn Chí Th mua điện thoại và còn nợ ông Nguyễn Việt S số tiền 6.300.000 đồng, thỏa thuận ông Th phải trả góp mỗi tháng là 2.100.000 đồng. Ông Nguyễn Chí Th đã được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng nhưng đều vắng mặt và không có ý kiến, không phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S nên có căn cứ xác định ông Nguyễn Chí Th còn nợ ông Nguyễn Việt S số tiền 6.300.000 đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Chí Th trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền còn nợ là 6.300.000 đồng theo quy định tại Điều 440 của Bộ luật dân sự năm 2015 là phù hợp.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, ông Nguyễn Chí Th phải chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Ông Nguyễn Việt S được hoàn lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

n cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Áp dụng các Điều 430, 440 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc ông Nguyễn Chí Th trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền còn nợ là 6.300.000 đồng (sáu triệu ba trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, ông Nguyễn Chí Th phải chịu 315.000 đồng. Ông Nguyễn Việt S được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã dự nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019314 ngày 18 tháng 7 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Trưng hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

181
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 53/2019/DS-ST ngày 26/11/2019 về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

Số hiệu:53/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Tân - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 26/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về