Bản án 53/2018/HNGĐ-ST ngày 30/10/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 53/2018/HNGĐ-ST NGÀY 30/10/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 30 tháng 10 năm 2018, tại Toà án nhân dân huyện Minh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2018/TLST – HNGĐ ngày 05/3/2018 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 432/2018/QĐST- HNGĐ ngày 20/9/2018 của Toà án nhân dân huyện Minh Hoá giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đinh Thị N

Trú tại: Thôn Lạc T, xã Minh H, huyện Minh H, tỉnh Quảng Bình - có mặt.

2. Bị đơn: Anh Đinh Văn D

Trú tại: Thôn Tiến H, xã Thượng H, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình- vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ghi ngày 11/10/2017 và tại bản tự khai ghi ngày 05/3/2018 của nguyên đơn Đinh Thị N trình bày: giữa chị N và anh D đã đăng ký kết hôn ngày 06/01/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Minh H, huyện Minh H, tỉnh Quảng Bình trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng thương yêu hòa thuận. Sau một thời gian phát sinh mâu thuẫn, sống không hợp nhau. Vì vậy chị N làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D.

Con chung của vợ chồng: Chị N và anh D có với nhau 01 con chung là cháu Đinh Thanh B, sinh ngày 08/9/2003, nguyện vọng của chị N nếu ly hôn xin được nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 500.000 đồng.

Tài sản chung : Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về vay chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa đã thụ lý vụ kiện theo yêu cầu của chị Đinh Thị N.

Về phía bị đơn anh Đinh Văn D, sau khi thụ lý vụ án Toà án nhân dân huyện Minh Hoá đã triệu tập anh D nhiều lần nhưng anh D cố tình không đến Toà án để tham gia các phiên hoà giải. Toà án nhân dân huyện Minh Hoá đã đến tại cơ sở và xác minh thì biết được biết hiện nay anh D đang có mặt tại địa phương và nhận được giấy triệu tập của Tòa án nhưng cố tình không hợp tác với Tòa án để giải quyết vụ án. Tòa án đã niêm yết tất cả các giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử và thông báo mở lại phiên tòa tại Ủy ban nhân dân xã nơi anh D cư trú nhưng anh D vẫn không đến tòa án để giải quyết vụ án.

Ngày 11/10/2018, Toà án nhân dân huyện Minh Hoá đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm ly hôn đối với chị N và anh D, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh D vắng mặt nên đã hoãn phiên toà vì lý do vắng mặt bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay anh D vẫn vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Chị Đinh Thị N và anh Đinh Văn D đã đăng ký kết hôn vào ngày 06/01/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Minh Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, nên được coi đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống 2 vợ chồng đã có với nhau 01 con chung. Đáng lẽ ra anh chị đã có một gia đình hạnh phúc, nhưng chỉ vì những bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng mà giữa anh chị đã xảy ra mẫu thuẫn trầm trọng không thể hoà giải được.

Về phía bị đơn anh Đinh Văn D có hộ khẩu thường trú tại Thôn Tiến H, xã Thượng H, huyện Minh H, tỉnh Quảng Bình, nhưng cố tình dấu địa chỉ mặc dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt tại Toà án. Ngày 11/ 10/2018, Toà án nhân dân huyện Minh H đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm ly hôn đối với chị N và anh D. Mặc dù đã được Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập hợp lệ nhưng anh D vẫn vắng mặt, nên đã hoãn phiên toà vì lý do vắng mặt bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay anh D đã được toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Toà án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét thấy mâu thuẩn của hai vợ chồng là rất trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên xử cho vợ chồng được ly hôn là đúng quy định tại các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

 [2] Về con chung: Xét thấy nguyện vọng của chị N là không hợp lý vì hiện nay cháu Bình đang ở với bố và cháu đang học ổn định, mặt khác nguyên vọn của cháu nếu bố mẹ ly hôn xin được ở với bố, nên giao cháu Bình cho anh D trực tiếp chăm sóc con chung là hợp lý. Yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 500.000 đồng đúng với quy định tại các điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.

 [3] Tài sản chung : không có nên miễn xét

 [4] Về vay chung: không có nên miễn xét

 [5] Về án phí: Chị Đinh Thị N phải chịu 300.000đ ( Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về tranh chấp ly hôn và 300.000đ ( Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo đình kỳ. Nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai số: 0004007 ngày 05/3/2018 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình chị Nguyên còn phải tiếp tục nộp 300.00đ ( Ba trăm ngàn đồng) án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị N được ly hôn với anh Đinh Văn D.

2. Về con chung: Giao anh Đinh Văn D trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Đinh Thanh B, sinh ngày 08/9/2003, chị Nguyên có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 500.000 đ (Năm trăm ngàn đồng). Thời gian nộp tiền cấp dưỡng kể từ tháng 10/2018 cho đến khi cháu Bình tròn 18 tuổi. Hai bên có quyền qua lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở thực hiện quyền này. Khi cần thiết vì quyền lợi của con một trong hai bên có quyền làm đơn yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí: Chị Đinh Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về tranh chấp ly hôn và 300.000đ ( Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo đình kỳ. Nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai số: 0004007 ngày 05/3/2018 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình chị N còn phải tiếp tục nộp 300.00đ ( Ba trăm ngàn đồng) án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trường hợp bên phải thi hành án do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán quy định tại Khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự mà không có thỏa thuận lãi suất thì thực theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự được xác định mức lãi suất quá hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự để trả cho bên được thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/10/2018), bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án tại trụ sở UBND xã Thượng H, huyện Minh H, tỉnh Quảng Bình để yêu cầu Tòa ánnhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử theo trình tự phúc thẩm.


43
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 53/2018/HNGĐ-ST ngày 30/10/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:53/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Minh Hóa - Quảng Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:30/10/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về