Bản án 53/2018/HNGĐ-ST ngày 21/09/2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN - TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 53/2018/HNGĐ-ST NGÀY 21/09/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 21 tháng 9 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 121/2018/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2018/QĐXX-ST ngày 03 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Thúy K, sinh năm 1993 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ 4, ấp 2, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1994 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Vĩnh Long

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Võ Văn Hg, sinh năm 1971 (xin vắng)

Địa chỉ: Tổ 4, ấp 2, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/5/2018 và các lời trình bày tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, chị Võ Thị Thúy K trình bày:

Năm 2012 chị và anh Nguyễn Văn H quen biết và có tìm hiểu nhau. Sau đó được cha mẹ hai bên gia đình đồng ý tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn, giấy chứng nhận do UBND xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 09/7/2014.

Nữ trang cưới gồm có: 03 chỉ vàng 24K. Hiện tại số vàng trên không còn do vợ chồng làm kinh tế bị thua lỗ.

Sau lễ cưới, chị và anh H về cùng sống chung với nhà cha mẹ ruột của chị tại địa chỉ: Tổ 4, ấp 2, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Huỳnh N sinh ngày 13/6/2013 hiện nay do chị chăm sóc nuôi dưỡng.

Trong thời gian chung sống vợ chồng không tạo ra được tài sản gì 

Trong thời gian chung sống, vợ chồng có thiếu nợ ông Võ Văn Hg số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), mượn để làm kinh tế. Ngoài ra vợ chồng không cho ai mượn nợ.

Do làm kinh tế không hiệu quả, dẫn đến thiếu nợ nên vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm và vợ chồng thường cự cãi, gây gỗ. Anh H sinh ra có quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân. Từ đó giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Tình vợ chồng giảm sút dần theo thời gian và ngày 10/5/2017 vợ chồng không còn sống chung với nhau nữa, anh H về quê cha mẹ ruột sinh sống, địa chỉ: ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Và vợ chồng ly thân từ ngày 10/5/2017 đến nay.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long giải quyết cho chị những vấn đề sau:

Về quan hệ hôn nhân: yêu cầu giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung Nguyễn Huỳnh N, sinh ngày 13/6/2013. Yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Huỳnh N như mỗi tháng 1.000.000đ (một triệu đồng) và cấp dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về quan hệ tài sản: Tài sản chung của vợ chồng là vàng cưới, hiện nay đã không còn, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về quan hệ nợ: Vợ chồng có thiếu nợ ông Võ Văn Hồng số tiền 100.000.000 đồng, mượn để kinh doanh.

Khi ly hôn: chị yêu cầu nợ chung chia đôi theo quy định của pháp luật. Tôi và anh H: mỗi người phải có trách nhiệm trả cho ông Võ văn Hg 50.000.000 đồng.

Ngày 03/8/2018 chị Võ Thị Thúy K có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện là về phần nợ 100.000.000đ nợ cha chị là ông Hg, chị không yêu cầu tòa án giải quyết trong vụ án xin ly hôn của chị.

Ngày 03/8/2018 ông Võ Văn Hg có đơn không yêu cầu tòa án giải quyết số tiền mà K và H mượn ông là 100.000.000đ. Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết số tiền mà H và K mượn ông trong vụ kiện K xin ly hôn H.

Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình, do vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau, xuất phát từ việc làm ăn thất bại, vợ chồng cự cãi, dẫn đến mâu thuẩn trầm trọng. Chị và anh H ly thân từ ngày 10/5/2017 đến nay. Chị không còn tình cảm cũng như không muốn chung sống với anh H, vì vậy chị xin ly hôn anh Nguyễn Văn H, nếu tòa không giải quyết cho chị ly hôn với anh H thì chị cũng không thể nào về chung sống với anh H được nữa. Về con chung Nguyễn Huỳnh N sinh ngày 13/6/2013 chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, về quan hệ tài sản: không tranh chấp, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bình Tân đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Văn Hn, để anh Nguyễn Văn H đến Tòa án tham gia tố tụng, nhưng anh H không có ý kiến gì gửi cho Tòa án.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Võ Thị Thúy K về việc yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn H; về con chung: có 01 người con chung Nguyễn Huỳnh N sinh ngày 13/6/2013; về tài sản chung, nợ chung chị Võ Thị Thúy K xác định không tranh chấp và không yêu cầu giải quyết là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bị đơn anh H có nơi cư trú tại huyện Bình Tân, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Bình Tân giải quyết.

[2] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Bình Tân tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tranh chấp ly hôn, Tòa án nhân dân huyện Bình Tân không có thu thập chứng cứ do đó vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp không phải tham gia kiểm sát việc tuân thủ theo pháp luật tại phiên tòa, được quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa vắng mặt anh Nguyễn Văn H không vì sự kiện bất khả kháng dù đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Thúy K và anh Nguyễn Văn H là vợ chồng hợp pháp, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh là do cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, thiếu sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, chị K và anh H đã ly thân từ ngày 10/5/2017 đến nay.

Xét cuộc sống gia đình giữa chị K và anh H không hạnh phúc, anh chị không dung hòa được tình cảm vợ chồng, không hàn gắn được hạnh phúc gia đình. Chị K không còn mong muốn cùng anh H xây dựng một gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Với những mâu thuẫn vợ chồng như chị đã trình bày tại phiên tòa nếu kéo dài thêm cuộc sống hôn nhân sẽ càng thêm trầm trọng thêm sự ức chế hai bên, mục đích hôn nhân không đạt được và cuộc hôn nhân này không thể kéo dài.

Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Thúy K cho chị K được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: Cháu Nguyễn Huỳnh ư sinh ngày 13/6/2013 hiện đang sống cùng chị K. Xét thấy hiện cháu N có cuộc sống ổn định nên việc chị K yêu cầu được nuôi cháu N là có căn cứ nên được chấp nhận. Chị K không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của chị K, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về quan hệ tài sản: không tranh chấp nên hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Dành riêng cho ông Võ Thanh H vụ kiện khác nếu có yêu cầu chị K và anh H trả số nợ là 100.000.000đ.

[4] Án phí hôn nhân sơ thẩm: chị K phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự ; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Thúy K được ly hôn với anh Nguyễn Văn H

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Huỳnh N sinh ngày 13/6/2013 cho chị Võ Thị Thúy K nuôi dưỡng, anh Nguyễn Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về quan hệ tài sản (tài sản chung, nợ chung): không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Án phí hôn nhân sơ thẩm:

Buộc chị Võ Thị Thúy K phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0012192 ngày 30/5/2018 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long, nên chị K không phải nộp thêm

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


43
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 53/2018/HNGĐ-ST ngày 21/09/2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:53/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bình Tân - Vĩnh Long
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:21/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về