Bản án 53/2018/HNGĐ-ST ngày 16/10/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 53/2018/HNGĐ-ST NGÀY 16/10/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Trong ngày 16/10/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:443/2018/TLST-HNGĐ, ngày 24/7/2018 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/9/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1977; HKTT: Số 469, Khu 10, phường Đ, thành phố BN, tỉnh Bắc Ninh (Có mặt ).

Bị đơn: Chị Dương Thị V, sinh năm 1983; Nơi cư trú cuối cùng: Số 469, khu 10, phường Đ, thành phố BN, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt ).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/7/2018 và trong quá trình xét xử nguyên đơn là anh Nguyễn Mạnh H trình bầy thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau.

Anh Nguyễn Mạnh H và chị Dương Thị V đăng ký kết hôn ngày 10/02/2004 tại UBND phường Thị Cầu, thị xã Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (Nay là thành phố Bắc Ninh). Trước khi kết hôn anh H và chị V có được tự do tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau. Sau khi kết hôn chị V về làm dâu và sống chung cùng gia đình anh H tại số 469, khu 10, phường Đ, thành phố BN và tình cảm vợ chồng hòa thuận. Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Mạnh Th, sinh ngày 22/11/2004. Theo anh H trình bầy mâu thuẫn vợ chồng phát sinh khoảng năm 2011 và nguyên nhân là do chị V không chăm lo đến gia đình, không quan tâm chăm sóc con cái. Hai bên gia đình cũng đã khuyên giải nhiều lần nhưng chị V không thay đổi. Mâu thuẫn như vậy kéo dài dẫn đến cuộc sống vợ chồng rất căng thẳng. Khoảng tháng 11/2011 do mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, chị V bỏ nhà đi và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Thời gian đầu thì có nghe nói chị V bỏ về nhà đẻ ở Quảng Ninh, nhưng sau đó chị V đi đâu làm gì anh không biết và chị V cũng không nói hiện chị ở đâu. Do không thể liên lạc được với chị V nên anh đã làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh ra thông báo tìm kiếm người vắng mặt ở nơi cư trú đối với chị Dương Thị V. Tại quyết định số: 07/2018/QĐGQVDS-ST ngày 14/6/2018 của TAND thành phố Bắc Ninh đã quyết định ra thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị Dương Thị V nhưng không có kết quả. Nay anh thấy vợ chồng không còn tình cảm, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Dương Thị V.

Về con chung: Anh H và chị V có 01 con chung là cháu Nguyễn Mạnh Th, sinh ngày 22/11/2004 hiện đang sống cùng anh H và ông bà nội. Khi ly hôn anh H xin được nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Th và không yêu cầu chị V phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn là chị Dương Thị V hiện không có mặt tại địa phương. Tại quyết định số 07/2018/QĐGQVDS-ST ngày 14/6/2018 của TAND thành phố Bắc Ninh đã quyết định ra thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị Dương Thị V theo yêu cầu của anh Nguyễn Mạnh H nhưng không có kết quả, chị V vẫn không liên lạc và không có mặt tại Tòa án để giải quyết việc anh H xin ly hôn với chị.

Tại phiên toà: Anh H vẫn giữ nguyên yêu cầu, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Dương Thị V.

Về con chung: Khi ly hôn anh xin được nuôi dưỡng và chăm sóc con chung là cháu Th và không yêu cầu chị V phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn là chị Dương Thị V hiện không có mặt tại địa phương. Tại quyết định số: 07/2018/QĐGQVDS-ST ngày 14/6/2018 của TAND thành phố Bắc Ninh đã quyết định ra thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị Dương Thị V theo yêu cầu của anh Nguyễn Mạnh H nhưng không có kết quả, chị V vẫn không liên lạc và không có mặt tại Tòa án để giải quyết việc anh H xin ly hôn với chị. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là chị Dương Thị V theo quy định của pháp luật.

Đại diện VKSND thành phố Bắc Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn là chị Dương Thị V hiện không có mặt tại nơi cư trú, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Mạnh H.

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Mạnh H được ly hôn với chị Dương Thị V.

- Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Mạnh Th, sinh ngày 22/11/2004 cho anh H nuôi dưỡng và chăm sóc.

- Về cấp dưỡng: Không đặt ra xem xét giải quyết do anh H không yêu cầu.

- Về tài sản chung, công nợ: Không có, không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[ 1 ] Anh Nguyễn Mạnh H và chị Dương Thị V đăng ký kết hôn ngày 10/02/2004 tại UBND phường Thị Cầu, thị xã Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (Nay là thành phố Bắc Ninh). Trước khi kết hôn anh H và chị V có được tự do tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau. Xét thấy đây là hôn nhân hợp pháp vì tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về kết hôn.

[ 2 ] Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Mạnh H, Hội đồng xét xử nhận thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh H và chị V là có thật và nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong quá trình chung sống, vợ chồng thiếu tin tưởng lẫn nhau. Từ những mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống hàng ngày nhưng không được các bên giải quyết triệt để dẫn đến quan hệ vợ chồng ngày càng căng thẳng, hiện vợ chồng sống ly thân và không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành hoà giải để vợ chồng về đoàn tụ nhưng không thành, anh H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với chị V. Bị đơn là chị Dương chị V đã đi khỏi nơi cư trú từ tháng 11/2011 và không liên lạc hay thông báo địa chỉ cho anh H biết. Tại quyết định số: 07/2018/QĐGQVDS-ST ngày 14/6/2018 của TAND thành phố Bắc Ninh đã quyết định ra thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị Dương Thị V theo yêu cầu của anh Nguyễn Mạnh H nhưng không có kết quả, chị V vẫn không liên lạc và không có mặt tại Tòa án để giải quyết việc anh H xin ly hôn với chị nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh H và chị V đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được căn cứ theo điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Mạnh H với chị Dương Thị V.

[ 3 ] Về con chung: Anh H và chị V có 01 con chung là cháu Nguyễn Mạnh Th, sinh ngày 22/11/2004 hiện cháu đang sống cùng anh H và ông bà nội. Khi ly hôn anh H xin được nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Th và không yêu cầu chị V phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy sau khi vợ chồng sống ly thân cháu Th vẫn sống cùng anh H và ông bà nội và đều được chăm sóc tốt. Để tránh làm xáo trộn cuộc sống của cháu Th khi bố mẹ ly hôn cũng như để đảm bảo mọi quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu Th tại thời điểm hiện tại cần giao cháu Th cho anh H nuôi dưỡng và chăm sóc là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình và phù hợp với nguyện vọng của cháu Th.

Về cấp dưỡng: Không đặt ra xem xét do anh H không yêu cầu.

Chị V được quyền thăm nom con chung song không được làm ảnh hưởng đến cuộc sống riêng của anh H và cháu Th. Không ai được cản trở quyền này của chị V.

Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Anh H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 147; 239; 243; 248; 260; 264; 267 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Mạnh H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Mạnh H được ly hôn với chị Dương Thị V.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Mạnh Th, sinh ngày 22/11/2004 cho anh H nuôi dưỡng và chăm sóc.

- Về cấp dưỡng: Không đặt ra xem xét giải quyết do anh H không yêu cầu.

Chị V được quyền thăm nom con chung song không được làm ảnh hưởng đến cuộc sống riêng của anh H và cháu Th. Không ai được cản trở quyền này của chị V.

3. Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Về án phí: Anh Nguyễn Mạnh H phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Xác nhận anh Nguyễn Mạnh H đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí tại biên lai số:AA/2017/0004855 ngày 19/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.

Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc ngày niêm yết kết quả bản án.


52
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 53/2018/HNGĐ-ST ngày 16/10/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:53/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bắc Ninh - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 16/10/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về