Bản án 53/2018/HNGĐ-ST ngày 06/06/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 53/2018/HNGĐ-ST NGÀY 06/06/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 06 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 576/2017/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2017 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/5/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ph - Sinh năm: 1981

Nơi cư trú: Thôn TH, xã NT, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Ông Đỗ Phước Đ - Sinh năm 1975

Nơi cư trú: Thôn TK, xã NS, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 25/9/2017 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Trần Thị Ph trình bày: Bà và ông Đỗ Phước Đ chung sống với nhau từ năm 2000 nhưng đến năm 2004 mới đăng ký kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NS, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc, do ông Đ thường xuyên đánh đập, dùng bạo lực trong gia đình và có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, bà nhiều lần hòa giải vợ chồng nhưng ông Đ không thay đổi, nay mâu thuẫn đã trầm trọng không thể giải quyết được, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Đỗ Phước Đ.

Về con chung: Bà và ông Đ có 04 con chung là Đỗ Phước Đ, sinh ngày 19/01/2001, Đỗ Thị Hồng Nh, sinh ngày 20/3/2003, Đỗ Thị Bích H, sinh ngày 28/8/2005 và Đỗ Hoàng Khánh L, sinh ngày 05/7/2015. Ly hôn bà xin được trực tiếp nuôi dưỡng bốn con vì các con bà đang nuôi dưỡng, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Bà Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Đỗ Phước Đ vắng mặt nên không lấy được lời khai

* Ý kiến của Kiểm sát viên:

+ Về chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án và nguyên đơn đã chấp hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, việc đưa vụ án ra giải quyết là quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định.

+ Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa nhận thấy có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; xem xét ý kiến trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng:

Ông Đỗ Phước Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Ph và ông Đỗ Phước Đ tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã NS, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa (Nay là xã NS, thị xã Ninh Hòa) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 44/2004 ngày 10/6/2004. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Ph và ông Đ là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Về tình trạng hôn nhân, theo lời trình bày của bà Ph thì vợ chồng bà chung sống không hạnh phúc, do ông Đ thường xuyên đánh đập, bạo lực gia đình và có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, bà nhiều lần hòa giải vợ chồng nhưng không được. Mặc dù, đây chỉ là lời khai của bà Ph nhưng ông Đ không có mặt để trình bày ý kiến là từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình. Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà Ph và ông Đ là trầm trọng, đời sống vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của bà Ph là có căn cứ.

[3] Về con chung: Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay bà Ph đang trực tiếp nuôi bốn con, bà Ph có công việc và thu nhập ổn định đủ điều kiện nuôi con. Hơn nữa, cháu Đ, Nh và cháu H có nguyện vọng ở với mẹ, cháu L thì còn nhỏ nên cần ở với mẹ. Hơn nữa, trong quá trình giải quyết vụ án ông Đ không có mặt để trình bày ý kiến của mình về việc nuôi con. Do vậy, Hội đồng xét xử giao các con chung tên là Đỗ Phước Đ, sinh ngày 19/01/2001, Đỗ Thị Hồng Nh, sinh ngày 20/3/2003, Đỗ Thị Bích H, sinh ngày 28/8/2005 và Đỗ Hoàng Khánh L, sinh ngày 05/7/2015 cho bà Ph trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là phù hợp. Ông Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con ông Đỗ Phước Đ có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ nên chấp nhận.

[4] Về tài sản chung: Bà Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Bà Ph phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 227, Điều 264, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Căn cứ khoản 4 Điều 147, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Ph. Bà Trần Thị Ph được ly hôn với ông Đỗ Phước Đ.

2. Về con chung: Giao 04 con chung tên là Đỗ Phước  Đ, sinh ngày 19/01/2001, Đỗ Thị Hồng Nh, sinh ngày 20/3/2003, Đỗ Thị Bích H, sinh ngày 28/8/2005 và Đỗ Hoàng Khánh L, sinh ngày 05/7/2015 cho bà Trần Thị Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Bà Ph không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Ông Đỗ Phước Định có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con ông Đỗ Phước Đ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

Quy định chung: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Án phí: Bà Trần Thị Ph phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí mà bà Hợi đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0003276 ngày 02/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa. Bà Trần Thị Ph đã nộp xong án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quuyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.


69
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 53/2018/HNGĐ-ST ngày 06/06/2018 về ly hôn

Số hiệu:53/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Ninh Hòa - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:06/06/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về