Bản án 53/2018/DS-ST ngày 09/07/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 53/2018/DS-ST NGÀY 09/07/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Trong ngày 09 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 137/2018/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 4 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn : Chị Nguyễn Thị Bé N, sinh năm 1970

Địa chỉ: 214B ấp H, xã N, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long

* Bị đơn : Anh Lê Văn S, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Địa chỉ: 214B ấp H, xã N, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 1994 qua quen biết tìm hiểu nhau chị Nguyễn Thị Bé N và anh Lê Văn S đã tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo tập quán, có đăng ký kết hôn vào ngày 30/12/2003 tại UBND xã Đ, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian sau ngày cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau đến năm 2007 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau, anh S có thói quen uống rượu về hành hung đánh đập chị Bé N và các con. Bản thân chị Bé N và cha mẹ ruột anh S cũng đã nhiều lần khuyên ngăn anh S để khắc phục mâu thuẫn vợ chồng cùng nhau lo cho con nhưng vẫn không được. Nay chị Bé N nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh S không còn nữa do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Nguyễn Thị Bé N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn S.

- Về con chung: có 02 con chung tên Lê Thị Tuyết M, sinh ngày 12/5/1995 và Lê Thị Tuyết M, sinh ngày 16/02/2004. Khi ly hôn chị Bé N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Tuyết M đồng thời không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Trong quá trình giải quyết vụ án, cháu Lê Thị Tuyết M có trình bày trong bản tự khai đề ngày 29/3/2018, trong trường hợp cha và mẹ cháu ly hôn với nhau, cháu có nguyện vọng được tiếp tục chung sống cùng với mẹ cháu là chị Nguyễn Thị Bé N. Riêng cháu Tuyết M đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lê Văn S vắng mặt mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ và cũng không gửi bản khai ý kiến cho Tòa án.

* Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé N vẫn bảo lưu ý kiến của mình.

- Bị đơn anh Lê Văn S vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị Bé N có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long giải quyết việc hôn nhân của chị và anh Lê Văn S. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Bị đơn anh Lê Văn S vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh Lê Văn S.

* Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 1994 qua quen biết tìm hiểu nhau chị Nguyễn Thị Bé N và anh Lê Văn S đã tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo tập quán, có đăng ký kết hôn vào ngày 30/12/2003 tại UBND xã Đ, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Do đó, quan hệ hôn nhân là hợp pháp và được pháp luật công nhận.

- Xét yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé N yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn S, Hội đồng xét xử xét thấy: Năm 2007, chị Bé N và anh S bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau, anh S có thói quen uống rượu về hành hung đánh đập chị Bé N và các con. Bản thân chị Bé N và cha mẹ ruột anh S cũng đã nhiều lần khuyên ngăn anh S để khắc phục mâu thuẫn vợ chồng cùng nhau lo cho con nhưng vẫn không được. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh S không còn nữa do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu của chị Nguyễn Thị Bé N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn S là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên được chấp nhận.

- Về con chung: có 02 con chung tên Lê Thị Tuyết M, sinh ngày 12/5/1995 và Lê Thị Tuyết M, sinh ngày 16/02/2004. Khi ly hôn chị Bé N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Tuyết M đồng thời không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Trong quá trình giải quyết vụ án, cháu Lê Thị Tuyết M có trình bày trong bản tự khai đề ngày 29/3/2018, trong trường hợp cha và mẹ cháu ly hôn với nhau, cháu có nguyện vọng được tiếp tục chung sống cùng với mẹ cháu là chị Nguyễn Thị Bé N. Do đó cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Bé N giao cháu Lê Thị Tuyết M cho chị Nguyễn Thị Bé N được tiếp tục nuôi dưỡng và giáo dục theo nguyện vọng của cháu là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Chị Bé N không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con, nên không đặt ra xem xét giải quyết. Riêng cháu Lê Thị Tuyết M đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

 Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

 Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bé N là nguyên đơn nên phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng các Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Bé N yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn S.

2. Về con chung: Giao cháu Lê Thị Tuyết M, sinh ngày 16/02/2004 cho chị Nguyễn Thị Bé N được tiếp tục nuôi dưỡng và giáo dục đồng thời anh Lê Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, anh Lê Văn S có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Riêng cháu Lê Thị Tuyết M đã trưởng thành, không yêucầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Bé N nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ từ 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu số 0001425 ngày 06/4/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Chị Nguyễn Thị Bé N không phải nộp thêm tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết theo thủ tục phúc thẩm./.


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 53/2018/DS-ST ngày 09/07/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:53/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Hồ - Vĩnh Long
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 09/07/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về