Bản án 53/2017/HSST ngày 22/08/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 53/2017/HSST NGÀY 22/08/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 22 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2017/HSST ngày 27 tháng 7 năm 2017, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2017/HSST-QĐ ngày 08 tháng 8 năm 2017, đối với bị cáo:

Lều Văn T. Sinh năm 1990. Nơi sinh: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh N. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú; nơi cư trú: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh N; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 10/12; con ông: Lều Văn C (đã chết) và bà: Phạm Thị D; bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24-12- 2010, bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt 36 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”, ra trại ngày 18-01-2013; bị bắt tạm giam tính từ ngày tạm giữ 27- 6 -2017 cho đến nay.

- Người làm chứng:

1. Anh Lê Văn S; sinh năm 1990;

Địa chỉ: Xóm 21, xã G, huyện G, tỉnh N.

2. Anh Bùi Văn C; sinh năm 1985;

Địa chỉ: Tổ dân phố 5B, thị trấn N, huyện G, tỉnh N.

3. Anh Phạm Ngọc Đ; sinh năm 1993; Địa chỉ: Xóm 13, xã H, huyện G, tỉnh N.

Tại phiên tòa: Bị cáo có mặt. Anh S, anh C, anh Đ đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 9 giờ 45 phút ngày 27 - 6 - 2017, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy phối kết hợp với Đội cảnh sát giao thông Công an huyện G làm nhiệm vụ tại khu vực cống C thuộc Tổ dân phổ 4A, thị trấn N, huyện G, phát hiện Lều Văn T điều khiển xe mô tô BKS- 18P2-2905 phía sau chở Lê Văn S có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã yêu cầu T dừng xe để kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện và thu giữ trong túi quần bên phải đang mặc của T 01 gói nhỏ được gói bằng giấy bạc bên trong có chứa chất bột dạng cụ màu trắng, được niêm phong ký hiện M. T khai nhận đó là gói heroin vừa mua với giá 100.000 đồng tại khu vực dốc H, xã g, huyện G mục đích để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra còn thu giữ của Lều Văn T 01 xe mô tô BKS- 18P2-2905 đã qua sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm pháp quả tang, niêm phong vật chứng.

Tại bản kết luận giám định số 565/GĐKTHS ngày 28-6-2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục màu trắng ký hiệu M gửi giám định là chất ma túy. Loại chất ma túy: Heroine. Trọng lượng mẫu M: 0,199 gam”.

Bản cáo trạng số 60/CT - VKS ngày 27-7-2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố bị cáo Lều Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Lều Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo T từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản gì, còn sống chung với bố mẹ, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo trình bày bản thân nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

 [2] Lời khai nhận tội của bị cáo Lều Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Bị cáo Lều Văn T đã có hành cất giấu trái phép 01 gói heroin có trọng lượng 0,199 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân đã bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy phối kết hợp với Đội cảnh sát giao thông Công an huyện Giao Thủy làm nhiệm vụ tại khu vực cống Cồn Nhất thuộc Tổ dân phổ 4A, thị trấn N, huyện G, phát hiện bắt quả tang. Do đó bị cáo đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố bị cáo về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.

 [3] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt 36 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân, nay lại tiếp tục phạm tội. Mặc dù bị cáo nhận thức ma túy là hiểm họa cho gia đình và xã hội, là một trong những nguyên nhân làm gia tăng và phát sinh các loại tội phạm hình sự khác. Để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội, cần phải xử phạt bị cáo bằng pháp luật hình sự như vậy mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo như sau.

 [4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của Bộ luật hình sự.

 [5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, ăn năn hối cải. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Người nào tàng trữ,... trái phép... chất ma túy thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm”.

Tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “ Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy... thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”:

a,...

c, Hêrôin,... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Căn cứ khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự ; Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Căn cứ vào tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải tập trung cải tạo một thời gian nhất định nhằm giáo dục bị cáo sau khi cải tạo trở về cộng đồng là công dân có ích cho gia đình và xã hội.

 [6] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định từ một năm đến năm năm”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo không có tài sản gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

 [7] Về xử lý vật chứng: Phong bì hoàn trả mẫu vật sau giám định sẽ áp dụng khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu cho tiêu hủy.

 [8] Về nguồn gốc số heroine thu giữ của Lều Văn Thiên T, T khai mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực dốc H, xã G , huyện G. Quá trình điều tra chưa xác định được đối tượng đã bán ma túy cho T nên cơ quan điều tra đã tách ra để tiếp tục điều tra làm rõ và có các biện pháp xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

 [9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố: Lều Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Lều Văn T 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 27-6-2017.

2. Xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì hoàn trả mẫu vật sau giám định số 565/GĐKTHS ngày 28-6-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh nam Định (được ghi chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 27-7-2017 giữa Công an huyện Giao Thủy và Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).

3. Án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lều Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 231 và Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


57
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 53/2017/HSST ngày 22/08/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:53/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Giao Thủy - Nam Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:22/08/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về