Bản án 52/2020/HS-ST ngày 01/06/2020 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 52/2020/HS-ST NGÀY 01/06/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Trong các ngày 28 tháng 5 và 01 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2020/TLST- HS, ngày 08 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Đình T, sinh ngày 16/3/1989 huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Nơi ĐKHKTT: Thôn D, thị trấn L, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã K, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Đình S, sinh năm 1957 và bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1960; Vợ: Nguyễn Thúy N, sinh năm 1990 (đã ly hôn); Con: có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/02/2020 đến ngày 17/02/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

2. Nguyễn Thế B, sinh ngày 09/4/1986 tại huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Trú tại: Thôn N, xã H, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Thế V, sinh năm 1962 và bà: Đỗ Thị S, sinh năm 1960; Vợ: Đặng Thị H, sinh năm 1990; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/02/2020 đến ngày 17/02/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

3. Trần Thị Mai H, sinh ngày 01/01/1977 tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Trú tại: Thôn T, xã K, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam (đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo quyết định số 198-QĐ/UBKTHU ngày 26/5/2020 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy Sơn Dương). Con ông: Trần Duy H (đã chết) và bà: Bùi Thị H, sinh năm 1948; Chồng: Trần Trung S, sinh năm 1973; Con: có 02 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2006. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/02/2020 đến ngày 17/02/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

4. Trần Quang T1, sinh ngày 20/7/1985 tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Trú tại: Thôn T, xã K, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Bá T, sinh năm 1958 và bà: Hoàng Thị T, sinh năm 1962; Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 04/4/2014, bị phòng CSĐT tội phạm về TTXH xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc (đã thi hành xong ngày 06/5/2014).

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/02/2020 đến ngày 17/02/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

5. Lê Văn H1, sinh ngày 28/3/1992 tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Trú tại: Thôn N, xã H, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 08/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Văn T, sinh năm 1963 và bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1967; Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2009, bị Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xử phạt 12 năm tù về tội giết người. Ngày 30/8/2013 chấp hành xong toàn bộ bản án;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/02/2020 đến ngày 17/02/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

6. Cao Thị T2, sinh ngày 15/9/1965 tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Trú tại: Thôn T, xã K, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 07/10; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Cao Duy Q (đã chết) và bà: Lương Thị H (đã chết); Chồng: Hoàng Quốc T, sinh năm 1964; Con: có 02 con, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1999. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho các bị cáo Lê Văn H1, Nguyễn Thế B: Bà Nguyễn Thị N - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt);

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Thị Mai H: Ông Vũ Trung K – Luật sư Chi nhánh số 1 Công ty Luật TNHH MTV Quốc Cường, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 11/02/2020, các đối tượng Trần Thị Mai H, Nguyễn Thế B và Nguyễn Đình T đến nhà ông Hoàng Quốc Th, sinh năm 1964, trú tại thôn T, xã K, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang để đánh bạc dưới hình thức chơi sâm sát phạt nhau bằng tiền, mức sát phạt 10.000 đồng/lá. Luật chơi như sau: Sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài, mỗi người chơi được chia 10 lá bài. Ván đầu tiên, người chia bài ngửa một quân bài kẹp vào khoảng giữa bộ bài, lá bài ngửa được chia cho ai thì người đó được quyền đi đầu tiên. Từ những ván sau, ai thắng người đó sẽ chia bài. Quá trình chơi, người chơi báo sâm khi không người chơi nào chặn được bài của mình, gồm có sâm tứ quý 2 (sâm 4 con 2), sâm đôi (05 cặp đôi), sâm đồng chất (10 quân bài cùng chất), sâm dây (tập hợp các quân bài liên tiếp nhau). Khi người chơi báo sâm thành công thì mỗi người chơi phải trả cho người đó 200.000 đồng, nếu người báo sâm bị người chơi khác chặn được thì phải trả cho người chặn 800.000 đồng. Trong ván chơi không có người báo sâm, người chơi bắt đầu từ người chia bài, đi theo vòng từ phải sang trái, người đánh sau quân bài phải có giá trị cao hơn người đánh trước, ai là người hết số lá bài trên tay trước là người thắng, khi còn 01 lá bài người chơi phải hô “báo” cho những người chơi còn lại biết. Kết thúc ván bài mà không đi được lá nào gọi là treo thì phải trả cho người thắng cuộc 150.000 đồng còn lại những người chơi khác thì đếm số lá bài còn lại để trả tiền cho người thắng, mỗi lá 10.000 đồng. Nếu người chơi đánh 2 mà bị chặt tứ quý thì phải trả cho người chặt 200.000 đồng, thối 2 đền 200.000 đồng cho người thắng cuộc. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày khi đang chơi thì bị bắt quả tang về hành vi đánh bạc cùng toàn bộ số tiền thu trên chiếu bạc là 6.405.000 đồng.

Khoảng 16 giờ cùng ngày, Lê Văn H1 đến tham gia đánh bạc cùng Trần Thị Mai H, Nguyễn Đình T và Nguyễn Thế B (luật chơi không thay đổi). Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Trần Quang T1 đến cùng tham gia đánh bạc với các bị cáo trên.

Quá trình các bị cáo đánh bạc, vợ chồng ông Th không có ở nhà. Khoảng 16 giờ cùng ngày, bị cáo Cao Thị T2, sinh năm 1965, là vợ của ông Th đến cửa hàng, thấy trong phòng ngủ có điện sáng và tiếng người, T2 mở cửa đi vào thấy các bị cáo ngồi đánh bạc được thua bằng tiền nhưng không đuổi, không báo cơ quan chức năng mà để các bị cáo tiếp tục đánh bạc. Thấy T2 mở cửa đi vào, Trần Thị Mai H đưa cho T2 số tiền 120.000 đồng (là số tiền các bị cáo bỏ ra từ những ván sâm) nhờ T2 đi mua nước. T2 mua hết 60.000 đồng, còn thừa 60.000 đồng. Số tiền thừa Trần Thị Mai H nói T2 cứ cầm lấy, T2 cầm tiền đi về, trước khi về thì dặn “Khi nào về đóng cửa cho mợ”, sau đó không quay lại cửa hàng lần nào.

Về số tiển sử dụng để đánh bạc được xác định:

1. Trần Thị Mai H có 1.300.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt không rõ thắng thua, để tiền tại chiếu bạc.

2. Nguyễn Thế B có 2.400.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc, Khi bị bắt không rõ thắng hay thua, tự nguyện giao nộp số tiền 300.000 đồng để trong ốp điện thoại không sử dụng vào mục đích đánh bạc.

3. Trần Quang T1 mang từ nhà đi 12.225.000 đồng, lấy ra 1.000.000 đồng sử dụng vào mục đich đánh bạc, không rõ thắng thua. Khi bị bắt tự nguyện giao nộp số tiền 11.255.000 đồng để trong túi áo ngực không sử dụng vào mục đích đánh bạc.

4. Nguyễn Đình T có 2.500.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt không rõ thắng thua, để tiền tại chiếu bạc.

5. Lê Văn H1 có 600.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc, không rõ thắng thua.

6. Cao Thị T2 tuy không trực tiếp tham gia đánh bạc, không thu tiền hồ nhưng đồng ý để các đối tượng đánh bạc tại nhà mình.

Tổng số tiền các bị cáo khai nhận sử dụng vào mục đích đánh bạc là 7.800.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 55/CT-VKS, ngày 07 tháng 5 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố: Trần Quang T1, Trần Thị Mai H, Lê Văn H1, Nguyễn Thế B, Nguyễn Đình T và Cao Thị T2 về tội Đánh bạc theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo tội danh, điều luật đã nêu trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố các bị cáo Trần Quang T1, Trần Thị Mai H, Lê Văn H1, Nguyễn Thế B, Nguyễn Đình T và Cao Thị T2 phạm tội “Đánh bạc”.

- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.

1. Xử phạt bị cáo Trần Quang T1 từ 07 đến 10 tháng tù, khấu trừ cho bị cáo thời gian tạm giữ từ ngày 12/02/2020 đến ngày 17/02/2020. Thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành án.

Phạt tiền bị cáo Trần Quang T1 từ 10.000.000 đống đến 12.000.000 đồng.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.

2. Xử phạt bị cáo Lê Văn H1 từ 06 đến 09 tháng tù giam, khấu trừ cho bị cáo thời gian tạm giữ từ ngày 12/02/2020 đến ngày 17/02/2020. Thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành án.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Thị Mai H.

3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T từ 08 đến 11 tháng tù cho hưởng án treo. Thử thách từ 16 đến 22 tháng.

4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế B từ 08 đến 11 tháng tù cho hưởng án treo. Thử thách từ 16 đến 22 tháng.

5. Xử phạt bị cáo Trần Thị Mai H từ 07 đến 10 tháng tù cho hưởng án treo. Thử thách từ 14 đến 20 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao các bị cáo T, B, H cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự.

6. Xử phạt bị cáo Cao Thị T2 từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời chấp hành hình phạt. Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo Lê Văn H1, Nguyễn Đình T, Nguyễn Thế B, Trần Thị Mai H, Cao Thị T2.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ, 15 tấm xốp trải sàn màu xanh. Tịch thu, sung quỹ nhà nước số tiền 6.465.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (trong đó 6.405.000 đồng thu trên chiếu bạc, 60.000 đồng thu giữ (bỏ ra từ những ván sâm) của Cao Thị T2; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thế B 300.000 đồng và trả lại cho bị cáo Trần Quang T1 11.255.000 đồng nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

- Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Ngưi bào chữa cho bị cáo Trần Thị Mai H phát biểu luận cứ bào chữa: Nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, không nhất trí về mức đề nghị đối với bị cáo Hiên. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65; Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị Mai H ở mức thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát đối đáp với người bào chữa cho bị cáo Trần Thị Mai H: Căn cứ vào vai trò, tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo H nên Viện kiểm sát thấy rằng mức đề nghị từ 07 đến 10 tháng tù cho hưởng án treo đối với bị cáo H là phù hợp với quy định của pháp luật. Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên mức đề nghị đối với bị cáo H. Đề nghị HĐXX xem xét, quyết định.

Người bào chữa cho các bị cáo Lê Văn H1, Nguyễn Thế B phát biểu luận cứ bào chữa:

Đối với bị cáo Nguyễn Thế B: Nhất trí với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, không nhất trí về mức đề nghị đối với bị cáo B từ 08 đến 11 tháng tù cho hưởng án treo. Vì bị cáo B có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là người bị khuyết tật nặng, gia đình bị cáo thờ cúng liệt sỹ Bùi Văn N (là bác bên vợ bị cáo), bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Đề nghị HĐXX xem xét áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Đối với bị cáo Lê Văn H1: Không nhất trí với mức đề nghị xử phạt bị cáo H1 từ 06 đến 09 tháng tù của đại diện Viện kiểm sát. Vì bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền ít nhất, bị cáo có bố đẻ ông Lê Văn T tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc, bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Đề nghị HĐXX xem xét xử bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát đối đáp với người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thế B: Bị cáo B là người sử dụng số tiền 2.400.000 đồng để đánh bạc, nhiều hơn các bị cáo còn lại. Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo không xuất trình tài liệu bị cáo là người bị khuyết tật nặng nên không có căn cứ xem xét. Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm luận tội đối với bị cáo B, đề nghị HĐXX xem xét, quyết định.

Đại diện Viện kiểm sát đối đáp với người bào chữa cho bị cáo Lê Văn H1: Mặc dù bị cáo H1 đánh bạc với số tiền 600.000 đồng, ít nhất so với các bị cáo còn lại. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2009, bị Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xử phạt 12 năm tù về tội giết người. Vì vậy Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt từ 06 đến 09 tháng tù đối với bị cáo là phù hợp. Đề nghị HĐXX xem xét, quyết định.

Bị cáo Trần Quang T1 trình bày: Bị cáo không nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát đối với bị cáo, mức án đề nghị phạt tù là cao, bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Về hình phạt bổ sung, phạt tiền bị cáo không nhất trí, vì thực tế bị cáo sống chung cùng bố mẹ, không có tài sản gì riêng có giá trị. Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo và không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát đối đáp với bị cáo Trần Quang T1: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính cùng về hành vi Đánh bạc. Mặc dù đã được xóa án tích nhưng bị cáo là người có nhân thân. Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm luận tội đối với bị cáo T. Đề nghị HĐXX xem xét, quyết định.

Tại phiên tòa bị cáo Cao Thị T2 khai nhận: Bị cáo xác định hành vi của bị cáo là sai, vi phạm pháp luật. Bị cáo công nhận lời khai ban đầu của bị cáo tại Cơ quan điều tra là đúng sự thật, do bị cáo tự nguyện khai báo, không bị ép cung, mớm cung hay bị dùng nhục hình. Do thiếu hiểu biết pháp luật nên khi các bị cáo khác đánh bạc tại cửa hàng nhà mình bị cáo không nói gì, không đuổi cũng không báo cơ quan chức năng. Bị cáo nhất trí với luận tội và không có ý kiến tham gia tranh luận gì đối với luận tội của Kiểm sát viên.

Các bị cáo Lê Văn H1, Nguyễn Thế B, Trần Thị Mai H nhất trí với luận cứ bào chữa của người bào chữa. Không có ý kiến tranh luận gì.

Bị cáo Nguyễn Đình T nhất trí với luận tội và không có ý kiến tham gia tranh luận gì đối với luận tội của Kiểm sát viên.

Kết thúc phần tranh tụng, các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về nội dung vụ án:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trần Quang T1, Trần Thị Mai H, Lê Văn H1, Nguyễn Thế B, Nguyễn Đình T đều đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Các bị cáo đều đã nhận thức được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật hình sự và xin được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất. Ngoài lời khai nhận của các bị cáo, hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản đối chất và toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đối với bị cáo Cao Thị T2, lời khai ban đầu thừa nhận khi đến cửa hàng hàn xì nhìn thấy các đối tượng đánh bạc được thua bằng tiền nhưng không nói, không đuổi, không báo cơ quan chức năng, để cho các đối tượng tiếp tục đánh bạc. Sau khi bị khởi tố, T2 thay đổi lời khai, khi đến cửa hàng hàn xì chỉ thấy các đối tượng đánh bài bằng tú lơ khơ, không biết đánh vui hay đánh bạc được thua bằng tiền. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt. Do vậy, xác định bị cáo Cao Thị T2 thành khẩn khai báo, phạm tội đánh bạc với vai trò đồng phạm.

Từ những chứng cứ trên đã có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ 14 giờ đến 22 giờ ngày 11/02/2020, tại gian phòng ngủ cửa hàng hàn xì nhà ông Hoàng Quốc Th, sinh năm 1964, trú quán thôn T, xã K, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Các bị cáo Nguyễn Đình T, Nguyễn Thế B, Trần Thị Mai H, Trần Quang T1 và Lê Văn H1 có hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi sâm sát phạt nhau bằng tiền, mức sát phạt là 10.000đ/lá bài. Tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 7.800.000 đồng, cụ thể:

- Nguyễn Đình T có 2.500.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc.

- Nguyễn Thế B có 2.400.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc.

- Trần Thị Mai H có 1.300.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc.

- Trần Quang T1 có 1.000.000 đồng sử dụng vào mục đich đánh bạc.

- Lê Văn H1 có 600.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc.

- Cao Thị T2 không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng khi đến biết các đối tượng đánh bạc tại cửa hàng hàn xì của nhà mình nhưng không nói gì, không đuổi cũng không báo cơ quan chức năng, mua nước hộ các đối tượng để các đối tượng tiếp tục đánh bạc nên đồng phạm với vai trò giúp sức.

Hành vi của các bị cáo Trần Quang T1, Trần Thị Mai H, Lê Văn H1, Nguyễn Thế B, Nguyễn Đình T và Cao Thị T2 đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Hành vi của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an chung tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân và là một trong những nguyên nhân thường dẫn đến các tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt, tương xứng với hành vi của từng bị cáo để giáo dục cải tạo các bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

[2] Vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này, vai trò của các bị cáo được thể hiện là đồng phạm giản đơn, không có tổ chức. Vai trò, tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo cụ thể như sau:

Bị cáo Nguyễn Đình T tham gia đánh bạc với số tiền 2.500.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thế B tham gia đánh bạc với số tiền 2.400.000 đồng. Số tiền bị cáo T, B đánh bạc nhiều hơn các bị cáo còn lại nên xác định bị cáo T, B có vai trò cao nhất trong vụ án.

Các bị cáo Trần Thị Mai H tham gia đánh bạc với số tiền 1.300.000 đồng; bị cáo Trần Quang T1 tham gia đánh bạc với số tiền 1.000.000 đồng; bị cáo Lê Văn H1 tham gia đánh bạc với số tiền 600.000 đồng. Các bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền ít hơn bị cáo T, B nên tính chất, mức độ nguy hiểm ít hơn. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét, đánh giá nhân thân bị cáo T1, bị cáo H1 để lên mức án cho phù hợp.

Bị cáo Cao Thị T2 là đồng phạm với vai trò giúp sức. Mặc dù bị cáo không trực tiếp tham gia đánh bạc, không thu tiền hồ nhưng khi biết các bị cáo đang đánh bạc tại cửa hàng nhà mình bị cáo không nói gì, không đuổi cũng không báo cơ quan chức năng, mặc nhiên để các bị cáo khác tiếp tục đánh bạc. Ngoài ra, bị cáo còn đi mua nước cho các bị cáo khác. Tuy nhiên, vai trò của bị cáo là thấp nhất so với các bị cáo còn lại.

Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ, số tiền đánh bạc không lớn, tính chất nguy hiểm trong hành vi thấp. Xét thấy các bị cáo có khả năng tự cải tạo nên không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù có thời hạn mà cho các bị cáo Nguyễn Đình T, Nguyễn Thế B, Trần Quang T1 và Lê Văn H1 được hưởng án treo; bị cáo Trần Thị Mai H1, Cao Thị T2 áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo.

Đối với bị cáo Trần Thị Mai H, Cao Thị T2 bị áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ. Do bị cáo H nghề nghiệp lao động tự do, bị cáo T2 nghề nghiệp làm ruộng. Lao động thu nhập của các bị cáo đều không ổn định nên miễn việc khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Không có - Về tình tiết giảm nhẹ:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (ngoại trừ bị cáo T2); Tại phiên tòa bị cáo Cao Thị T2 đã thành khẩn khai báo; Các bị cáo Trần Thị Mai H, Trần Quang T1, Nguyễn Thế B, Nguyễn Đình T, Cao Thị T2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo Trần Thị Mai H có mẹ là Bùi Thị H được nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất, mẹ chồng là Lê Thị Đ được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba; bị cáo Lê Văn H1 có bố là Lê Văn T có thời gian tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc làm nhiệm vụ quốc tế sau ngày 30/4/1975 đã phục viên; các bị cáo Trần Quang T1, Nguyễn Thế B, Lê Văn H1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng khi quyết định hình phạt cho các bị cáo.

[4] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình điều tra và truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp. Vì vậy, các chứng cứ có trong hồ sơ đều được thu thập theo trình tự tố tụng và hợp pháp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn và không có tài sản gì riêng có giá trị; các bị cáo H1, B thuộc hộ cận nghèo. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện Sơn Dương đã tạm giữ: 52 quân bài tú lơ khơ, 15 tấm xốp trải sàn màu xanh, 6.405.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam thu trên chiếu bạc, 60.000 đồng là số tiền thu giữ (bỏ ra từ những ván sâm) của Cao Thị T2, 300.000 đồng là số tiền Nguyễn Thế B tự nguyện giao nộp, 11.255.000 đồng là số tiền Trần Quang T1 tự nguyện giao nộp. Số tiền trên hiện gửi tại tài khoản tạm gửi theo quy định.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với 52 quân bài tú lơ khơ, 15 tấm xốp trải sàn màu xanh. Xác định đây là công cụ, phương tiện phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với số tiền 6.405.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam thu trên chiếu bạc, 60.000 đồng là số tiền thu giữ (bỏ ra từ những ván sâm) của Cao Thị T2 do các bị cáo đều sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu để sung công quỹ Nhà nước.

Đối với số tiền 300.000 đồng của bị cáo Nguyễn Thế B và số tiền 11.255.000 đồng của bị cáo Trần Quang T1 đều tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra nhưng các bị cáo không sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tuyên trả cho các bị cáo nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

I. Về tội danh:

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Quang T1, Trần Thị Mai H, Lê Văn H1, Nguyễn Thế B, Nguyễn Đình T và Cao Thị T2 phạm tội “Đánh bạc”.

II. Về áp dụng điều luật và hình phạt: - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Đình T, Nguyễn Thế B, Trần Quang T1.

Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thế B, Trần Quang T1.

1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 01 (một) năm 02 (hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (01/6/2020).

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế B 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 01 (một) năm 02 (hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (01/6/2020).

3. Xử phạt bị cáo Trần Quang T1 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 01 (một) năm 02 (hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (01/6/2020).

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.

4. Xử phạt bị cáo Lê Văn H1 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 01 (một) năm 02 (hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (01/6/2020).

Giao bị cáo Nguyễn Đình T cho Uỷ ban nhân dân thị trấn L, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Thế B, Lê Văn H1 cho Uỷ ban nhân dân xã H, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang nơi các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Trần Quang T1 cho Uỷ ban nhân dân xã K, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật Thi hành án hình sự.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự. Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Thị Mai H.

5. Xử phạt bị cáo Trần Thị Mai H 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/02/2020 đến ngày 17/02/2020 là 06 (sáu) ngày được quy đổi thành 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo phải chấp hành tiếp là 08 (tám) tháng 12 (mƣơi hai) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã K, huyện Sơn Dương được giao giám sát, giáo dục đối với bị cáo nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.

6. Xử phạt bị cáo Cao Thị T2 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã K, huyện Sơn Dương được giao giám sát, giáo dục đối với bị cáo nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao các bị cáo Trần Thị Mai H, Cao Thị T2 cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt.

III. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu, tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ, 15 tấm xốp trải sàn màu xanh;

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Sơn Dương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương ngày 08/5/2020).

- Tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 6.465.000đ (Sáu triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thế B 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại cho bị cáo Trần Quang T1 11.255.000đ (Mười một triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn đồng) nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

(Số tiền trên đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương chuyển vào tài khoản số: 3949.0.1064844.00000 là tài khoản của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Sơn Dương mở tại Kho bạc Nhà nước huyện Sơn Dương ngày 07/5/2020).

IV. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:

- Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.


16
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 52/2020/HS-ST ngày 01/06/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:52/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Sơn Dương - Tuyên Quang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:01/06/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về