Bản án 52/2019/HSST ngày 22/10/2019 về tội cố ý gây thương tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 52/2019/HSST NGÀY 22/10/2019 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 22 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 51/2019/HSST ngày 12 tháng 9 năm 2019 và theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49 ngày 10 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Đình Tr; tên gọi khác: Không; sinh ngày 03/8/196; nơi ĐKHKTT : Khối Tân H – thị trấn Nghĩa Đàn – huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; con ông Trần Minh H – đã chết và bà Phan Thị L – sinh năm 1945; Vợ: Lê Thị H sinh năm 1975 và có 02 con, lớn sinh năm 199, nhỏ sinh năm 199; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 31/10/2002 bị TAND huyện Nghĩa Đàn xử phạt 03 tháng tù về tội Đánh bạc; ngày 05/11/2003 bị TAND huyện Nghĩa Đàn xử phạt 05 tháng tù về tội Đánh bạc. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/7/2019 cho đến nay. Có mặt.

Người bị hại: ông Nguyễn Văn D, sinh năm 193. Trú tại: Khối Tân H –thị trấn Nghĩa Đàn – huyện Nghĩa Đàn – tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại: Ông Nguyễn Thái Q - Trợ giúp viên thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Trần Đình Tr bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Ông Nguyễn Văn D sinh năm 193, trú tại Khối Tân H, Thị trấn Nghĩa Đàn trước đây có khai hoang một lô đất ở xã Nghĩa Bình, nay thuộc thị trấn Nghĩa Đàn, do ông D tuổi cao, sức yếu và hay ốm đau nên miếng đất này ông D đã cho con trai mình là anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1967 ở Khối Tân Mai, thị trấn Nghĩa Đàn trồng cây. Năm 2008, trụ sở hành chính huyện Nghĩa Đàn được quy hoạch và miếng đất của ông D cho con trai là anh Th cũng ở gần khu hành chính huyện. Biết việc UBND huyện Nghĩa Đàn có dự định thu hồi đến diện tích đất của ông D nên anh Thcho vợ chồng Trần Đình Tr mượn đất để trồng cây trên đó để khi UBND huyện Nghĩa Đàn có thu hồi đất thì được đền bù cây trồng. Trần Đình Tr nhận đất và trồng sắn và một số cây khác trên đất để chờ đền bù nhưng sau này UBND huyện Nghĩa Đàn không thu hồi diện tích đất này nữa nên anh Nguyễn Văn Th lấy lý do ông D đòi lại đất nên nói với Tr là trả lại đất cho ông D nhưng Tr chưa trả ngay mà chờ để thu hoạch cây mà mình đã trồng và chăm sóc. Chờ lâu không được nên Nguyễn Văn Th đã phá cây cối hoa màu do Trần Đình Tr trồng để lấy lại đất thì giữa anh Th và Tr đã xảy ra xô xát và đã được hòa giải bằng việc Tr trả lại đất cho ông D còn anh Th hỗ trợ 03 triệu đồng tiền cây và hoa màu cho Tr. Sáng ngày 27 tháng 6 năm 2019 Trần Đình Tr đi làm móng nhà cho anh Đoàn Quyết Ch và được anh Ch mời tổ thợ uống bia, sau khi uống bia xong thì khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày Trần Đình Tr đi về nhà mình thì nhớ tới việc tranh chấp đất đai giữa mình và anh Th trước đây. Lúc này Tr nghĩ việc anh Th lấy lại đất mà trước đây anh Th cho Tr mượn là do ông D xúi dục nên Tr sẽ tìm ông D để đánh cảnh cáo. Trần Đình Trg lấy một con dao nhọn dài 52cm để trong bao dao làm bằng gỗ và một chiếc dao mẹo dài 28,5cm để trong bao dao bằng nhựa rồi đi bộ sang nhà ông D gần đó. Khi đi đến nhà ông D thì thấy cổng và cửa nhà ông D khép nên Tr mở cổng và cửa nhà rồi bước vào. Khi đi vào nhà thì Tr dắt con dao mẹo ở đai quần bò còn tay phải thì cầm con dao nhọn, tay trái cầm vỏ bao dao bằng gỗ. Khi Tr đi vào thì gặp bà Lê Thị Xuân Llà vợ ông D mở cửa phòng ngủ đi ra, Tr thấy ông Dc nằm ngủ trên nền nhà trong phòng ngủ, thấy Tr cầm con dao nhọn thì bà L nói “chi rứa Tr hầy” thì Trọng nói “Tau vào chém bây, bây thích chi tau chiều nấy”. Thấy ông D ngồi dậy trên nền nhà thì Trọng cầm cán dao nhọn ở tay phải đứng đối diện với ông D rồi dơ lên chém xuống theo hướng từ trên xuống dưới, từ trái qua phải rồi từ phải qua trái về phía mặt ông D thì mũi dao trúng sống mũi và cung lông mày trái và gò má trái gây rách da chảy máu cho ông D. Bị chém nên ông Nguyễn Văn D dơ hai tay ôm lấy mặt mình nên Trọng cầm vỏ dao bằng gỗ ở tay trái dí một đầu vỏ dao vào mặt ông Dục rồi gạt mạnh với mục đích để ông Dục bỏ tay ra nhưng bao dao lại trúng bên ngoài mắt trái của ông D, Trần Đình Tr giơ tay phải đang cầm con dao nhọn lên và chém xuống đầu ông D thì lưỡi dao trúng đỉnh đầu ông D. Thấy ông Dc bị chảy máu ở đầu và mặt nên bà Lâm van xin Trọng đừng gây thương tích cho ông Dục nữa. Sau đó Trọng cầm dao và vỏ bao dao đi về nhà còn ông D được người nhà đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện Nghĩa Đàn, sau đó được chuyển xuống bệnh viện chấn thương chỉnh hình Nghệ An để điều trị tiếp. Tại biên bản xem xét dấu vết thân thể ông Nguyễn Văn D ngày 28 tháng 6 năm 2019 xác định: 01 vết thương vùng đỉnh chẩm phải, đã được băng khâu, băng gạc y tế; 01 vết thương ở cung lông mày trái được băng khâu gắn đính băng gạc y tế; 01 vết thương ở hố mắt trái, bầm tụ máu, phù nề; gò má trái có vết thương được băng khâu, gắn đính băng gạc y tế; đỉnh sống mũi có vết thương được băng khâu gắn đính băng gạc y tế. Tại bản trích sao bệnh án ngày 28/6/2019 của Trung tâm y tế huyện Nghĩa Đàn đối với ông Nguyễn Văn D thể hiện: Vào viện ngày 27/6/2019 và chuyển viện ngày 28/6/2019, vào viện bệnh nhân tỉnh, vùng đỉnh đầu có vết thương kích thước 5x1x1cm; vùng cung lông mày trái có vết thương kích thước 3x1x1cm; vùng gò má trái có vết thương kích thước 3x1x1cm; vùng sống mũi có vết thương kích thước 2x1x1cm. Tại bản tóm tắt bệnh án của Bệnh viện chấn thương chỉnh hình Nghệ An đối với ông Dc như sau: Ngày vào viện 28/6/2019, ngày ra viện 03/7/2019, lúc vào viện bệnh nhân tỉnh chậm, có các vết thương đỉnh đầu kích thước 4cm đã khâu tiểu phẩu, vết thương sưng nề, không rỉ dịch; vết thương bờ trên ổ mắt trái kích thước 3cm đã khâu tiểu phẩu, vết thương sưng nề, không rỉ dịch; vết thương bờ dưới ổ mắt trái kích thước 3 cm đã khâu tiểu phẩu, vết thương sưng nề, không rỉ dịch; vết thương sống mũi kích thước 1,5cm đã khâu, vết thương sưng nề, không rỉ dịch; đau đầu , buồn nôn, không nôn; thị lực mắt trái giảm. Chụp cắt lớp vi tính sọ não không thấy hình ảnh máu tụ nội sọ hoặc tổn thương vòm sọ, nền sọ, không thấy hình ảnh tổn thương xương sọ, tình trạng bệnh nhân lúc ra viện tạm ổn.Tại biên bản kết luận giám định số 167/TTPY ngày 01/7/2019 và bản kết luận giám định bổ sung pháp y về thương tích số 182/TTPY ngày 18/7/2019 của trung tâm giám định pháp y tỉnh Nghệ An kết luận: Chấn động não kết quả điều trị ổn định, một số vết thương phần mềm tại các vị trí: đỉnh chẩm phải, nằm dọc dưới cung lông mày trái, gò má trái và nằm ngang sống mũi, các vết thương trên không ảnh hưởng thẩm mỹ, các vết thương trên do tác động ngoại lực do vật sắc nhọn gây nên, tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 08% (tám phần trăm).

Cáo trạng số 51/VKS-HS ngày 10 tháng 9 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn đã truy tố Trần Đình Tr về tội “Cố ý gây thương tích” theo các điểm a, i, c khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Nghĩa Đàn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý đối với bị cáo như sau: xử phạt Trần Đình Tr từ 18 đến 24 tháng tù về tội cố ý gây thương tích. Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại theo quy định của pháp luật từ 15.000.000 đồng đến 15.746.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường trước được 07 triệu đồng gồm: 02 triệu đồng con của bị cáo Trọng đưa trực tiếp cho anh Thắng con ông D, 05 triệu đồng nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn, buộc bị cáo Tr phải bồi thường tiếp cho người bị hại số tiền còn lại từ 8.000.000đ đến 8.746.000đ.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu tang vật liên quan đến việc phạm tội của bị cáo.

Có mặt tại phiên tòa hôm nay, người bị hại do tuổi cao sức yếu, nói không rõ mà ủy quyền cho con trai là anh Nguyễn Văn Th trình bày: Vào ngày 27 tháng 6 năm 2019 ông D đang chuẩn bị nằm ngủ tại nền nhà mình thì bị Trần Đình Tr đi vào dùng dao chém liên tiếp vào đầu và mặt gây thương tích nhiều nơi trên cơ thể, bản thân ông là người già yếu, không gây mâu thuẫn gì với bị cáo. Nay ông D đề nghị bị cáo Tr phải bồi thường cho ông tổng cộng số tiền 52.035.000đ bao gồm chi phí điều trị, tiền thuốc, tiền công người chăm sóc, tiền tổn thất về tinh thần, chi phí giám định, tiền xe đưa đi cấp cứu và đi về và các chi phí khác. Anh Thắng thừa nhận trước đó khi ông Dục đang điều trị tại bệnh viện thì con của bị cáo Trọng có đến đưa cho anh Thắng 02 triệu đồng để lo chữa trị cho ông Dục.

Nhng người làm chứng tại phiên tòa hôm nay gồm : bà Lê Thị Xuân L trình bày: bà không biết vì sao bị cáo Trọng lại gây thương tích cho chồng bà vì khi Trọng đến Trọng cầm hai con dao nhọn, bà nói chi rứa Tr hầy, Tr nói bây thích chi tau chiều, rồi đi thẳng đến chỗ ông D đang ngồi nơi nền nhà và vung dao chém liên tiếp vào vùng mặt chồng bà, bà Lâm có van xin đừng chém chồng bà nữa thì Tr nói im mồm, hét lên là Tr chém. Sau đó thì Tr đi ra sân và đi về. Lúc này bà mới thông tin cho các con về đưa ông D đi cấp cứu. Nay tại phiên tòa bà đề nghị xử lý nghiêm bị cáo Trọng để gia đình bà được yên tâm. Anh Nguyễn Văn Th trình bày: Anh và Trần Đình Tr trước đây là bạn bè trong xóm nhưng khoảng 10 năm trước hai bên xảy ra mâu thuẫn liên quan đến việc tranh chấp cây cối được trồng trên đất của ông D và đã được giải quyết xong xuôi, anh Th có đền bù tiền cây trên đất và tiền thuốc vì gây thương tích cho anh Tr tổng cộng là 06 triệu đồng, sau sự việc đó thì giữa anh Th và Tr không quan hệ gì nữa. Sự việc Trọng cầm dao chém ông D là bố anh, anh thấy bất ngờ vì giữa ông D và anh Tr không có mâu thuẫn gì. Hôm đó anh đang ở nhà thì nghe thông tin Trọng chém ông D nên anh chạy xe về thì thấy máu từ đầu và mặt ông Dục bị chảy ra nhiều nên anh đã đưa ông D đi cấp cứu. Đối với chị T và anh H trình bày, hôm xảy ra sự việc thì anh Hòa và chị Tuyết đang ngồi dưới cây nhạn trước nhà để hóng mát, một lúc sau thấy anh Trọng đi bộ từ trong cổng nhà ông Dục đi ra, khoảng 05 phút sau thì nghe trong nhà ông D ồn ào và thấy con trai ông D đi đến đưa ông D đi viện cấp cứu và nói bị anh Tr chém, còn nguyên nhân do đâu ông D bị chém và bị chém như thế nào thì chị T và anh H không được chứng kiến. Đối với chị Lê Thị H là vợ anh Tr thì khi Tr gây thương tích cho ông D thì chị H không biết gì, buổi chiều hôm đó đi làm về thì chị có nghe nói việc Tr gây thương tích cho ông D, sau đó chị có nhờ mọ người xuống thương lượng với gia đình ông D nhưng ông D không cho thương lượng mà đề nghị pháp luật giải quyết vụ việc này. Bản thân chị bị bệnh nặng, chị mong muốn pháp luật xử lý chồng chị với mức án nhẹ nhất để Trọng sớm được trở về đỡ đần cho chị.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại trình bày: Hồ sơ vụ án thể hiện, bị cáo Tr phạm tội có tính chất côn đồ do giữa người bị hại và bị cáo không có mâu thuẫn gì nhưng bị cáo Tr đã vô cớ hành hung ông D, việc bị cáo Tr phạm tội đối với người già không có khả năng tự vệ, bị cáo dùng dao và cán dao là hung khí nguy hiểm, đột nhập bất hợp pháp vào nhà bị hại nên cần phải xử lý bị cáo thật nghiêm minh để làm gương cho những người coi thường pháp luật. Về trách nhiệm dân sự cần buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 52.035.000đ như đề nghị của bị hại để bù đắp tổn thất tinh thần cũng như chi phí mà bị hại đã bỏ ra trong quá trình điều trị.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghĩa Đàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Đình Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng quy kết.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã được thẩm tra lại tại phiên tòa hôm nay. Từ đó xác định được vào trưa ngày 27/6/2019, sau khi đi uống rượu về và nhớ lại chuyện tranh chấp cây cối trên đất trước đây với anh Nguyễn Văn Th và cho rằng anh Thắng đòi lại đất là do ông Dục xúi dục nên Trần Đình Tr đã cầm hai con dao đi sang nhà ông Nguyễn Văn D cũng ở gần đó. Khi đi vào nhà Tr thấy bà L mở cửa còn ông D đang ngồi dưới nền nhà chuẩn bị đi ngủ thì Tr cầm dao tiến đến chỗ ông D ngồi đồng thời hô lên:

Bây thích chi tau chiều, cùng với lời nói Trọng đã giơ con dao nhọn lên và chém từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, từ phải qua trái trước mặt và đầu ông D thì mũi dao đã trúng đỉnh đầu và khóe mắt trái, trúng lông mày trái ông D gây chảy máu nhiều. Bị chém nên ông D đã giơ hai tay ôm mặt thì Trọng cầm vỏ dao làm bằng gỗ gạt tay ông D ra nhưng bao dao lại trúng khóe mắt ngoài bên trái của ông D, Tr tiếp tục cầm cán dao nhọn ở tay phải dơ lên chém một phát từ trên xuống dưới về phía đầu ông Dục thì lưỡi dao trúng đỉnh đầu. Lúc này bà Lê Thị Xuân L là vợ ông D đứng ra van xin Trọng dừng lại đừng hành hung ông D nữa thì Tr dừng lại rồi đi bộ về nhà. Sau khi Trọng về nhà thì bà Lâm đã thông tin cho các con về đưa ông D ra Trung tâm y tế huyện Nghĩa Đàn cấp cứu, sau đó được chuyển xuống bệnh viện Chấn thương chỉnh hình Nghệ An. Sau đó ông Dc làm đơn yêu cầu giám định và tỷ lệ thương tật của ông Nguyễn Văn Dc là 08% (tám phần trăm). Bị cáo Trần Đình Tr phạm tội với ông Nguyễn Văn Dvới rất nhiều tình tiết định khung như phạm tội với người già, phạm tội với tính chất côn đồ bởi giữa ông D và Trọng không có mâu thuẫn gì nhưng Trọng vô cớ gây thương tích cho ông D, ngoài ra Trọng còn dùng dao và cán dao làm bằng gỗ để gây thương tích cho ông D Do đó bị cáo Trần Đình Tr đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo các điểm a, c, i khoản 1 điều 134 Bộ luật Hình sự.

Đây là vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng do bị cáo Tr thực hiện với lỗi cố ý đã trực tiếp xâm phạm sức khỏe của ông Nguyễn Văn D, gây mất trật tự trị an tại địa phương do vậy cần phải xử lý nghiêm.

Xét tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Xét tình tiết giảm nhẹ:bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện nộp số tiền 7.000.000đ ( bảy triệu đồng) gồm 05 triệu đồng nộp tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Nghĩa Đàn và 02 triệu đồng đưa trực tiếp cho người bị hại, mẹ bị cáo được tặng huân chương kháng chiến. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Xét nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu. Ngoài lần xét xử này thì vào các năm 2002 và năm 2003 bị TAND huyện Nghĩa Đàn xử phạt tù về tội Đánh bạc nhưng đã được xóa án tích.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, kết hợp với việc xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Thấy bị cáo Trần Đình Tr phạm tội với tính chất côn đồ và hành hung với người già vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian, tuy nhiên cần xét xử bị cáo ở mức thấp hơn mức đề nghị của vị đại diện VKSND huyện Nghĩa Đàn vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ cũng là hợp lý.

Về mặt dân sự: Tại phiên tòa hôm nay ông Nguyễn Văn Dc yêu cầu Trần Đình Tr bồi thường số tiền 52.035.000đ gồm: Tiền viện phí gia đình bỏ ra trong quá trình điều trị là 05 triệu đồng; tiền công 01 người chăm sóc (8 ngày) = 2.500.000đ; tiền mất thu nhập của người bị hại 08 ngày = 2.500.000đ, tiền thuê xe đưa đi cấp cứu và giám định 03 triệu đồng; tiền tổn hại sức khỏe do bị chém 40 triệu đồng; tiền bồi dưỡng sức khỏe trong quá trình điều trị 02 triệu đồng. Bị cáo Tr cho rằng yêu cầu bồi thường của ông D là quá cao và đề nghị HĐXX tính toán theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu của ông Nguyễn Văn D thì thấy rằng: Yêu cầu của ông Nguyễn Văn D về thiệt hại sức khỏe bị xâm phạm là hoàn toàn đúng quy định, tuy nhiên mức yêu cầu bồi thường là quá cao và có một số hóa đơn chứng từ, bệnh án được ông D cung cấp gồm: hóa đơn thăm dò chức năng: 69.600đ; chi phí khám chữa bệnh người bệnh tự trả 188.200đ; VX FAT 68.789đ, dịch vụ kiểm tra máu HIV 103.400đ; sao nhanh 02 bệnh án 100.000đ toàn bộ các hóa đơn chứng từ trên mà ông Nguyễn Văn D cung cấp có số tiền là 529.989đ. Xét một số chi phí hợp lý và thực tế mà người bị hại không cung cấp hóa đơn chứng từ nhưng được hưởng gồm: tiền công không lao động được những ngày điều trị : 08 ngày x 200.000 đồng/ngày = 1.600.000 đồng; Tiền công người chăm sóc 08 ngày x 200.000đ đồng/ngày = 1.600.000 đồng; Tổn thất về tinh thần 7.450.000 đồng; tiền chi phí giám định 1.500.000đ, tiền thuê xe đi cấp cứu 02 lần đi và về 3.000.000đ. Tổng cộng: 15.679.989 đồng, bị cáo Trần Đình Tr đã nộp bồi thường trước 7.000.000đồng. Nay bị cáo Trọng còn phải bồi thường tiếp số tiền 8.679.989đ (tám triệu sáu trăm bảy mươi chín nghìn chín trăm tám mươi chín nghìn đồng) cho bị hại.

Về vật chứng vụ án: 01 chiếc dao nhọn dài 52cm, cán dao làm bằng gỗ hình tròn dài 16cm, đường kính nơi cán dao lớn nhất 3,5cm, đường kính cán dao nơi nhỏ nhất 2,1cm, hai đầu cán dao được đính khuy kim loại màu vàng, lưỡi dao dài 36cm, mũi dao bị gãy tù ở mũi dao, bản dao nơi rộng nhất 4,5cm, dao đã qua sử dụng; 01 vỏ bao đựng dao nhọn làm bằng gỗ màu vàng dài 39cm, một đầu vỏ dao nhọn, một đầu vỏ dao cắt bằng, vỏ dao dày 1,4cm, vỏ dao đã qua sử dụng; 01 chiếc dao mẹo dài 28,5cm, cán dao làm bằng gỗ hình bầu dục dài 10cm, đường kính nơi cán dao lớn nhất 3,5cm, đường kính nơi cán dao nhỏ nhất 2,1cm, hai đầu cán dao được đính khuy kim loại màu vàng, lưỡi dao dài 18,5cm, bản dao nơi rộng nhất 3,5cm, dao đã qua sử dụng; 01 vỏ bao dao nhọn làm bằng nhựa màu ghi dài 19cm, bên ngoài vỏ dao được sơn màu đỏ 3 vạch, vỏ dao nơi rộng nhất 4,5cm, vỏ dao đã qua sử dụng. Những vật chứng này là công cụ phạm tội giá trị sử dụng còn ít cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Đình Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng các điểm a, c, i khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Đình Tr 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày bắt bị cáo là ngày 09/7/2019.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các điều 584; 585; 586; 590 Bộ luật dân sự. Nghị quyết số 03/2006/HĐTP-TANDTC ngày 8/7/2006: Buộc bị cáo Trần Đình Tr có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tổn hại sức khỏe cho ông Nguyễn Văn Dục với số tiền là 15.679.989 đồng nhưng được khấu trừ số tiền bị cáo Tr đã nộp bồi thường trước 2.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0008417 ngày 11/10/2019 và 03 triệu đồng theo biên lai thu số 0008377 ngày 27/9/2019 của Chi cục Thi hành án huyện Nghĩa Đàn và 02 triệu đồng bị cáo Tr đưa trực tiếp cho người bị hại, tổng cộng đã bồi thường được 07 triệu đồng. Nay bị cáo Tr còn phải bồi thường tiếp cho người bị hại số tiền 8.679.989đ (tám triệu sáu trăm bảy mươi chín nghìn chín trăm tám mươi chín đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại điều 357 BLDS năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc dao nhọn dài 52cm, cán dao làm bằng gỗ hình tròn dài 16cm, đường kính nơi cán dao lớn nhất 3,5cm, đường kính cán dao nơi nhỏ nhất 2,1cm, hai đầu cán dao được đính khuy kim loại màu vàng, lưỡi dao dài 36cm, mũi dao bị gãy tù ở mũi dao, bản dao nơi rộng nhất 4,5cm, dao đã qua sử dụng; 01 vỏ bao đựng dao nhọn làm bằng gỗ màu vàng dài 39cm, một đầu vỏ dao nhọn, một đầu vỏ dao cắt bằng, vỏ dao dày 1,4cm, vỏ dao đã qua sử dụng; 01 chiếc dao mẹo dài 28,5cm, cán dao làm bằng gỗ hình bầu dục dài 10cm, đường kính nơi cán dao lớn nhất 3,5cm, đường kính nơi cán dao nhỏ nhất 2,1cm, hai đầu cán dao được đính khuy kim loại màu vàng, lưỡi dao dài 18,5cm, bản dao nơi rộng nhất 3,5cm, dao đã qua sử dụng; 01 vỏ bao dao nhọn làm bằng nhựa màu ghi dài 19cm, bên ngoài vỏ dao được sơn màu đỏ 3 vạch, vỏ dao nơi rộng nhất 4,5cm, vỏ dao đã qua s ử dụng. Đặc điểm cụ thể các vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra công an huyện Nghĩa Đàn và Chi cục thi hành án Dân sự huyện Nghĩa Đàn ngày 10 tháng 9 năm 2019.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Đình Tr phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 434.000đ (bốn trăm ba mươi tư nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người bị hại. Báo cho bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.


23
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về