Bản án 52/2019/HSST ngày 04/03/2019 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN  THÀNH PHỐ T, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 52/2019/HSST NGÀY 04/03/2019 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 04 tháng 03 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 75/2019/HSST ngày 24/01/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62 /2019/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Bùi Anh Đ - Sinh năm 1995; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: 106/77 phố H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; văn hóa 12/12; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông: Bùi Khăc H, sinh năm 1959 và bà: Lê Thị V, sinh năm 1959; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm ngày 13/12/2018, Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Nguyễn Văn P. sinh năm 1991. ( vắng mặt); Địa chỉ: Số nhà 24/76 phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Lê Thanh T - Sinh năm 1995 ( vắng mặt); Đại chỉ: , phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12h30 phút ngày 30/9/2018 tại quán internet T, địa chỉ: Phố 4, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, Bùi Anh Đ mượn 01 xe máy Yamaha Exciter màu đỏ đen, BKS 36E1 - 197.14 ( thời điểm Đức mượn xe chưa lắp biển kiểm soát) của anh Nguyễn Văn P sinh năm 1991, ở số nhà 24/76 Phố T, phường N, thành phố T để đi về nhà. Do có mối quan hệ quen biết từ trước nên anh P đồng ý cho Đ mượn xe. Sau khi mượn được xe thì Đ nảy sinh ý định mang chiếc xe trên đi cầm cố lấy tiền trả nợ cá nhân. Đ mang chiếc xe trên đến hiệu cầm đồ của anh Lê Thanh T sinh năm 1995, ở phường Đông Vệ, thành phố T gặp anh Bùi Quang H, sinh năm 1997 ở địa chỉ 70, phường L, thành phố T là nhân viên hiệu cầm đồ. Đ nói với H là xe mới mua, giấy tờ xe bố mẹ đang cầm, biển số xe chưa kịp lắp, muốn cầm cố lấy số tiền 9.000.000đ thì H đồng ý cho Đ cầm cố. Số tiền cầm cố xe Đ đã dùng để trả nợ và chi tiêu cá nhân hết. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội Đ đã bỏ trốn khỏi địa phương.

Ngày 22/11/2018, Hội đồng định giá tài sản UBND thành phố T kết luận 01 xe máy 01 xe máy Yamaha Exciter màu đỏ đen, BKS 36E1 – 197.14 trị giá 26.880.000đ

Ngày 04.12.2018, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe máy Exciter màu đỏ đen, chưa lắp BKS cho anh Nguyễn Văn P. Anh P đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác.

Đối với anh Bùi Quang H là người đã cho Đ cầm cố xe máy nhưng không biết đây là tài sản phạm tội mà có. Ngày 28/11/2018, anh H đã tự nguyện mang chiếc xe BKS 36F1 – 197.14 đến cơ quan điều tra Công an thành phố T giao nộp, do đó hành vi của Bùi Quang H không phạm tội.

Về dân sự: Anh Lê Thanh T là chủ cửa hàng cầm đồ ở phường Đ, thành phố T yêu cầu Bùi Anh Đ trả lại số tiền 9.000.000đ.

Cáo trạng số 62/CT-VKSTP ngày 23/01/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố Bùi Anh Đ về tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 của BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thành phố T luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175, điểm s,i khoản 1 Điều 51; Điều 38, đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quátrình điều tra, truy tố đã  thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người làm chứng tang vật thu được trong vụ án cùng các chứng cứ, tài liệu khác thu thập được phản ánh trong hồ sơ. Đủ cơ sở chứng minh: Do mối quan hệ quen biết từ trước vào khoảng 12h30 phút ngày 30/9/2018 tại quán tại quán internet Thế Ước địa chỉ: Phố 4, phường Q, thành phố T, tỉnh T, Bùi Anh Đ mượn 01 xe máy Yamaha Exciter màu đỏ đen, BKS 36E1 – 197.14 ( thời điểm Đ mượn xe chưa lắp biển kiểm soát) của anh Nguyễn Văn P trị giá 26.880.000đ, sau đó nảy sinh ý định cầm cố xe. Đ mang xe đến hiệu cầm đồ ở địa chỉ phường Đ, thành phố T cầm cố chiếc xe lấy số tiền 9.000.000đ để chi tiêu cá nhân.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội và giữ nguyên quyết định truy tố Bùi Anh Đ về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự như nội dung cáo trạng đã nêu là có căn cứ và phù hợp với qui định của pháp luật. Bị cáo không có tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử có đủ cở sở kết luận: Hành vi phạm tội của Bùi Anh Đ có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được qui định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người đúng tội đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xuất phát từ mối quan hệ quen biết với người bị hại, sau khi được người bị hại cho mượn xe, bị cáo đã đã dùng thủ đoạn gian dối đem đi cầm cố lấy 9.000.000đ và bỏ đi khỏi địa phương. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện tính táo bạo liều lĩnh, gây dư luận xấu trong nhân dân, hành vi đó không những xâm phạm đến trật tự trị an nói chung mà còn xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân nói riêng, do đó cần được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà sửa chữa sai phạm của mình, trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn P đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì về phần dân sự nên công nhận phần dân sự đã giải quyết xong.

Đối với số tiền bị cáo cầm cố xe tại hiệu cầm đồ của anh Lê Thanh T, anh T yêu cầu bị cáo Đ trả lại số tiền 9.000.000đ do đó bị cáo phải có trách nhiệm trả lại cho anh T số tiền 9.000.000đ là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 48 của BLHS.

[5]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

Điểm a khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 48 BLHS; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số  326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội qui định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bùi Anh Đ phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”

Xử phạtBùi Anh Đ 15 (mười lăm) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/12/2018.

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận phần dân sự đối với bị hại đã giải quyết xong. Buộc bị cáo có trách nhiệm trả lại cho anh Lê Thanh T số tiền 9.000.000đ

Kể từ khi bản án có hiệu lực Pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bị cáo không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì phải chịu thêm khoản tiền khai theo quy định tại điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm, 450.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7,9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.


55
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 52/2019/HSST ngày 04/03/2019 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:52/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:04/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về