Bản án 52/2019/DS-ST ngày 19/11/2019 về kiện đòi tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 52/2019/DS-ST NGÀY 19/11/2019 VỀ KIỆN ĐÒI TÀI SẢN

Ngày 19 tháng 11 năm 2019 tại Toà án nhân dân huyện Cư M’gar xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 272/2019/TLST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2019 về “Kiện đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2019/QĐXXST-DS, ngày 14 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/QĐST-DS, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đào Thị H, sinh năm 1974, có mặt

Địa chỉ: Thôn B, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, có mặt

Bị đơn: Ông Võ N, vắng mặt

Địa chỉ: Thôn A, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn Đào Thị H trình bày:

Ngày 08/8/2014 ông Võ N có đến nhà bà Đào Thị H vay số tiền là 5.000.000 đồng, ngày 10/8/2014 vay số tiền là 32.000.000 đồng, ngày 08/10/2014 vay tiếp số tiền là 32.000.000 đồng. Tổng cộng, ông N vay của bà H 69.000.000 đồng, mục đích để làm ăn, hai bên không thỏa thuận lãi suất, hẹn cuối năm 2014 trả hết toàn bộ số nợ trên. Khi vay bà H không nhận cầm cố, thế chấp tài sản gì của ông N mà hai bên chỉ viết giấy mượn tiền. Bà H xác định toàn bộ chữ ký, chữ viết “Võ N” trong giấy mượn tiền mà bà H đã cung cấp cho tòa án là do ông Võ N trực tiếp viết, ký nhận. Từ thời điểm vay đến nay ông Võ N chưa trả cho bà H khoản tiền nào. Nay bà H đề nghị Tòa án buộc ông Võ N trả cho bà số tiền gốc là 69.000.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông Võ N đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai, hòa giải được, mở phiên họp vắng mặt ông N.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án;

Đi với Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 463; Điều 466 và Điều 470 Bộ luật dân sự;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đào Thị H.

Buộc ông Võ N trả cho bà Đào Thị H số tiền là 69.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền đã vay. Tuy nhiên, Điều 429 Bộ luật dân sự 2015 quy định “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm”, như vậy thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản đã hết. Tòa án xác định đây là vụ án kiện đòi tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn Võ N vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về nội dung vụ án: Ngày 08/8/2014 ông Võ N có vay của bà Đào Thị H số tiền là 5.000.000 đồng, ngày 10/8/2014 vay 32.000.000 đồng, ngày 08/10/2014 vay tiếp số tiền là 32.000.000 đồng. Tổng cộng, ông N vay của bà H 69.000.000 đồng, kể từ ngày vay đến nay ông N chưa trả cho bà H khoản tiền nào. Do ông Võ N vắng mặt nên Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký ông Võ N. Tại bản kết luận giám định số 89/PC09 ngày 11 tháng 9 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Đăk Lăk đã kết luận: Chữ ký và chữ viết đứng tên Võ N tại giấy nhận nợ so với chữ ký, chữ viết trong các tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký và viết ra. Do đó yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị H buộc ông Võ N trả cho bà 69.000.000 đồng là có căn cứ.

Do yêu cầu trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết Võ N là có căn cứ nên buộc ông Võ N trả cho bà Đào Thị H toàn bộ chi phí giám định là 3.600.000 đồng.

Về án phí: Ông Võ N phải chịu án phí do yêu cầu của bà Đào Thị H được chấp nhận.

Bà Đào Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 161; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng các Điều 166; Điều 280; Điều 429; Điều 463; Điều 466; Điều 470 Bộ luật dân sự;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào Thị H.

Buộc ông Võ N phải trả cho bà Đào Thị H số tiền 69.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Về án phí và chi phí tố tụng khác:

Về án phí: Ông Võ N phải chịu 3.450.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho nguyên đơn bà Đào Thị H 1.725.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0014050 ngày 02/7/2019 của Chi cục thi hành án huyện Cư M’gar.

Về chi phí giám định: Ông Võ N phải chịu 3.600.000 đồng tiền chi phí giám định. Bà Đào Thị H được nhận lại số tiền 3.600.000 đồng chi phí giám định tài liệu khi thu được từ ông Võ N.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.


66
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 52/2019/DS-ST ngày 19/11/2019 về kiện đòi tài sản

Số hiệu:52/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cư M'gar - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 19/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về