Bản án 52/2018/DS-ST ngày 09/07/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 52/2018/DS-ST NGÀY 09/07/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Trong ngày 09 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 159/2018/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 4 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn : Chị Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1992

Địa chỉ: N59 đường Đ, phường 8, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long

* Bị đơn : Anh Nguyễn Quốc T, sinh năm 1983 (vắng mặt) Địa chỉ: 3/13 ấp T, xã H, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết N và anh Nguyễn Quốc T qua quen biết tìm hiểu nhau đã tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo tập quán, có đăng ký kết hôn vào ngày 28/3/2017 tại UBND xã H, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian sau ngày cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau đến cuối năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau, anh T có thói quen uống rượu về hành hung đánh đập chị N. Bản thân chị N cũng đã nhiều lần khuyên ngăn anh T để cố gắng khắc phục mâu thuẫn vợ chồng nhưng vẫn không được. Chị N đã về nhà cha mẹ ruột sống từ đầu năm 2018 cho đến nay và từ đó anh T cũng không quan tâm đến cuộc sống của chị N nữa. Nay chị N nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn nữa do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Nguyễn Thị Tuyết N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Quốc T.

- Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Quốc T vắng mặt mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ và cũng không gửi bản khai ý kiến cho Tòa án.

* Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết N vẫn bảo lưu ý kiến của mình.

- Bị đơn anh Nguyễn Quốc T vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị Tuyết N có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long giải quyết việc hôn nhân của chị và anh Nguyễn Quốc T. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Bị đơn anh Nguyễn Quốc T vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Quốc T.

* Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết N và anh Nguyễn Quốc T qua quen biết tìm hiểu nhau đã tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo tập quán, có đăng ký kết hôn vào ngày 28/3/2017 tại UBND xã H, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Do đó, quan hệ hôn nhân là hợp pháp và được pháp luật công nhận.

- Xét yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết N yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Quốc T, Hội đồng xét xử xét thấy: Cuối năm 2017, chị N và anh T bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau, anh T có thói quen uống rượu về hành hung đánh đập chị N. Bản thân chị N cũng đã nhiều lần khuyên ngăn anh T để cố gắng khắc phục mâu thuẫn vợ chồng nhưng vẫn không được. Chị N đã về nhà cha mẹ ruột sống từ đầu năm 2018 cho đến nay và từ đó anh T cũng không quan tâm đến cuộc sống của chị N nữa. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn nữa do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tuyết N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Quốc T là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên được chấp nhận.

- Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

* Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tuyết N là nguyên đơn nên phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng các Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tuyết N yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Quốc T.

2. Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Tuyết N nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng)tiền án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ từ 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu số 0001463 ngày 18/4/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Chị Nguyễn Thị Tuyết N không phải nộp thêm tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết theo thủ tục phúc thẩm./.


83
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 52/2018/DS-ST ngày 09/07/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:52/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Hồ - Vĩnh Long
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:09/07/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về