Bản án 51/2020/HS-ST ngày 06/05/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 51/2020/HS-ST NGÀY 06/05/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 06 tháng 05 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2020/HS-ST ngày 09/03/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2020/QĐXXST-HS ngày 16/04/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Trung D sinh năm:1988, Nơi ĐKHKTT và nơi ở: phố Cầu H, thị trấn T, huyện H, tỉnh N. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa lớp: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Duy Y (đã chết) và con bà: Phạm Thị B ; Vợ: Trịnh Thị N; con: có 02 con: con nhỏ sinh năm: 2015, con lớn sinh năm: 2009. Tiền án,Tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/12/2019 đến ngày 02/01/2020 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay, có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Đỗ Văn N, sinh năm: 1997 Địa chỉ: xã N huyện H, tỉnh N, vắng mặt.

Ngưi chứng kiến:

- Anh Nguyễn Q, sinh năm 1956 - Chị Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm: 1993.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Trung D là người nghiện ma túy; khoảng 10 giờ ngày 27/12/2019, Nguyễn Trung D điều khiển xe mô tô hiệu Wave, biển kiểm soát 35B2- 664.71 từ nhà đến khu vực cầu Non Nước thuộc phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình nhằm mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đi đến khu vực đầu cầu Non Nước, bị cáo D vào một quán nước ven đường để uống nước, tại đây bị cáo gặp một người bạn tên S không biết nhà ở đâu. Do trước đây S có nói mình mua được ma túy nên bị cáo D đã nhờ S đi mua hộ ma túy đá, S đồng ý. Bị cáo đưa cho S 300.000 đồng, S cầm tiền và hẹn bị cáo ra khu vực Nhà thi đấu thuộc phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình đợi để lấy ma túy. Khoảng 5 phút sau, S điều khiển xe mô tô đến chỗ bị cáo đợi và đưa cho bị cáo 01 gói nhỏ gói ngoài bằng nilon màu trắng, mép túi có viền màu đỏ bên trong là chất tinh thể màu trắng rồi điều khiển xe đi. Mua được ma túy, bị cáo D bỏ vào túi quần phía trước bên trái đang mặc và điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi Nguyễn Trung D đi đến khu vực đường Lưu Cơ, phố K, phường Ninh K, thành phố Ninh Bình thì bị Tổ công tác Công an phường Ninh Khánh phối hợp với công an xã Ninh Nhất dừng xe để kiểm tra. Bị cáo D đã tự giác móc trong túi quần bên trái phía trước đang mặc gói ma túy vừa mua ra giao nộp cho Tổ công tác và khai nhận gói nhỏ ma túy đó là của bị cáo mua về để sử dụng. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng và đưa bị cáo cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Ninh Khánh, thành phố Ninh Bình lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Ngoài ra còn thu giữ của bị cáo 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc biển kiểm soát 35B2- 664.71 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đỏ đen.

Tiến hành cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng trong túi nilon thu giữ của Nguyễn Trung D có khối lượng là 0,24 gam ký hiệu M gửi giám định xác định loại ma túy, khối lượng chất ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 37/KLGĐ - PC09 - MT ngày 31/12/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể mầu trắng gửi giám định kí hiệu M có khối lượng 0,2339 gam là ma túy loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục II, số thứ tự 323; Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/ 05/2018 của Chính phủ. Cơ quan giám định hoàn lại đối tượng giám định gồm: Chất dạng tinh thể mầu trắng còn lại trong mẫu giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1670 gam là ma túy loại Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong được niêm phong trong một phong bì ghi số 37/KLGĐ- PC09- MT theo đúng quy định của pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 04/03/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trung D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Ninh Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Nguyễn Trung D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung D từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2019.

Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại cùng vỏ, bao gói niêm phong ban đầu;

Bị cáo phải nộp án phí HSST và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trung D không có ý kiến gì với Bản kết luận giám định; Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình; lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện công khai, hợp pháp đúng Pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Trung D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như vật chứng đã thu giữ; kết luận giám định và phù hợp với lời khai của người chứng kiến. Như vậy, ngày 27/12/2019 bị cáo D có hành vi tàng trữ khối lượng 0,2339gam là ma túy loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến việc quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, là một trong những nguyên nhân gia tăng các tệ nạn xã hội, phát sinh các tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh và trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng bị cáo lại không từ bỏ ma túy, tu dưỡng rèn luyện, để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, mà vẫn đi vào con đường phạm tội. Hội đồng xét xử thấy cần phải có hình phạt nghiêm khắc cần buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, hành vi mà bị cáo đã thực hiện mới có đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo góp phần phòng ngừa chung trong xã hội.

Khi lượng khung hình phạt Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt cho bị cáo như sau: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; khi bị Tổ công tác kiểm tra hành chính bị cáo đã tự giác lấy ma túy giao nộp và khai nhận hành vi phạm tội của mình đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nói trên để giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Nguyễn Trung D tàng trữ trái phép ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân, không mang mục đích vụ lợi, vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Các vấn đề khác:

- Về nguồn gốc ma túy: bị cáo Nguyễn Trung D khai nhờ một người tên S nhà ở huyện H, tỉnh N trước đây cùng lái xe taxi với bị cáo, do bị cáo không biết địa chỉ cụ thể của S cũng như không nhớ biển kiểm soát xe mô tô S điều khiển nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đủ cở sở điều tra, làm rõ.

- Vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra cơ quan công an có thu giữ của bị cáo 01 gói ma túy có khối lượng 0,2339 gam, đã trích một phần ký hiệu M gửi đi giám định, số ma túy còn lại là 0,1670 gam là Methamphetamine, Cơ quan Công an hoàn trả lại cùng toàn bộ vỏ, giấy gói ban đầu, vỏ bao gói niêm phong, đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Về tài sản đã thu giữ: Đối với 01 điện thoại di động Masstel màu đỏ đen là của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị Trịnh Thị Nhung là vợ bị cáo (do bị cáo ủy quyền); Đối với 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc biển kiểm soát 35B2 – 664.71, quá trình điều tra xác định là của anh Đỗ Văn N sinh năm 1997 trú tại xã N, huyện H, tỉnh N. Anh N không biết việc bị cáo sử dụng xe mô tô trên đi mua ma túy. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho anh N. Chị Trịnh Thị N và anh Đỗ Văn N đã nhận lại tài sản, không có đề nghị gì. Việc trả lại tài sản trên là phù hợp với quy định của pháp luật.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung D phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy ”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung D 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/12/2019.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: số mà túy là Methamphetamine còn lại cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu; (Vật chứng có đặc điểm theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 30 tháng 03 năm 2020 giữa Công an Thành phố Ninh Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Trung D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trưng hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 51/2020/HS-ST ngày 06/05/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:51/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Ninh Bình - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 06/05/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về