Bản án 51/2019/HS-ST ngày 10/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 51/2019/HS-ST NGÀY 10/04/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 10 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lýsố: 48/2019/TLST- HS ngày 12 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2019/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Hoàng Văn T, sinh năm 1980 tại Lạng Sơn;

Nơi cư trú: Số 39, đường Nguyễn Văn N, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 5/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T vàbàHoàng Thị V; vợ: Triệu Thị T; con: Có02 con, con lớn 14 tuổi, con nhỏ 04 tuổi; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị bắt tạm giữ ngày 05/12/2018, tạm giam ngày 08/12/2018 tại Nhàtạm giữ Công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, cómặt.

- Người chứng kiến: Anh Vi Quốc T, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 05/12/2018, Tổ công tác Công an thành phố L làm nhiệm vụ tại khu vực đường N, khối 1, phường V, thành phố L bắt quả tang Hoàng Văn T cóhành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong lòng bàn tay phải của Hoàng Văn T 01 gói giấy nhỏ bên trong chứa chất bột màu trắng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, Hoàng Văn T khai nhận: Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 05/12/2018 Hoàng Văn T một mình đi ra quán nước ở khu vực Ngã tư đường N- N1 gặp Vy Thị Hồng N nhàở thôn H, xãH, thành phố L hỏi mua 01 gói ma túy Heroin về sử dụng, được Vy Thị Hồng N đồng ý. Hoàng Văn T đưa cho Vy Thị Hồng N 200.000 đồng, Vy Thị Hồng N bảo Hoàng Văn T ngồi chờ tại quán nước, Vy Thị Hồng N đi khoảng 10 phút rồi quay lại đưa cho Hoàng Văn T 1 gói ma túy Heroine, Hoàng Văn T cầm gói ma túy trong tay phải đi tìm chỗ sử dụng thìbị Công an bắt quả tang.

Căn cứ lời khai của Hoàng Văn T, Cơ quan điều tra tổ chức xác minh, xác định Vy Thị Hồng N sinh năm 1979, trútại thôn H, xãH, thành phố L. Đến 10 giờ30 phút cùng ngày 05/12/2018, tại quán nước Ngã tư N - N1, Công an thành phố L kiểm tra, phát hiện Vy Thị Hồng N cóhành vi tàng trữ 01 gói chất bột màu trắng. Qua giám định làchất ma túy Heroin cókhối lượng 0,191 gam. Vy Thị Hồng N khai không được bán trái phép chất ma túy cho Hoàng Văn T màchỉ góp tiền cùng Hoàng Văn T để mua ma túy.

Cơ quan điều tra đã tổ chức đối chất, Hoàng Văn T khai nhận không được góp tiền mua ma túy với Vy Thị Hồng N, nên không đủ căn cứ kết luận Vy Thị Hồng N bán trái phép chất ma túy cho Hoàng Văn T cũng như không đủ căn cứ kết luận Vy Thị Hồng N góp tiền với Hoàng Văn T để mua ma túy, nên không đủ cơ sở để xử lý Vy Thị Hồng N trong vụ án này.

Tại kết luận giám định số 19/KL-PC09 ngày 10/12/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Hoàng Văn T gửi giám định là chất ma túy Heroine có khối lượng 0,141gam.

Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 12 tháng 3 năm 2019, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố Hoàng Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên nội dung quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 15 đến 18 tháng tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung làphạt tiền vìbị cáo không có nghề nghiệp ổn định vàkhông cótài sản để đảm bảo thi hành án.

- Về xử lývật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong 01 phong bìđã niêm phong.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phíhình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận tại phiên tòa. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện Kiểm sát vàKiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quátrình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không cóýkiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Lời khai của bị cáo Hoàng Văn T tại phiên tòa phùhợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phùhợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng vànhững chứng cứ, tài liệu khác cótrong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 05/12/2018, tại khu vực đường N, khối 1, phường V, thành phố L khi Hoàng Văn T đang tàng trữ trong người 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng, nghi làchất ma túy thì bị Công an thành phố L phát hiện, bắt quả tang. Kết quả giám định kết luận chất bột màu trắng thu giữ của Hoàng Văn T làchất ma túy Heroine có khối lượng 0,141 gam. Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 12 tháng 3 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

 [3] Hành vi phạm tội của bị cáo lànguy hiểm cho xãhội, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy làvi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, hành vi của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm trước pháp luật.

 [4] Để có căn cứ quyết định hình phạt, ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, cần xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

 [5] Về nhân thân vàtình tiết tăng nặng: Bị cáo không cótiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng.

 [6] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quátrình điều tra vàtại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có bố đẻ làông Hoàng Văn T1 và mẹ là bà Hoàng Thị V là người có công, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng nhì. Vì vậy, bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

 [7] Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, yếu tố về nhân thân, chỉ cần xét xử bị cáo mức án đầu khung hình phạt đã truy tố cũng có tác dụng giáo dục bị cáo và răng đe, phòng ngừa chung. Điều này thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội, để bị cáo an tâm cải tạo, sớm trở lại hòa nhập với cộng đồng.

 [8] Về hình phạt bổ sung: Tại biên bản xác minh ngày 08/12/2018 xác định bị cáo Hoàng Văn T không có nghề nghiệp ổn định vàkhông cótài sản riêng để đảm bảo thi hành án, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

 [9] Về xử lývật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong mẫu vật ma túy còn lại sau giám định, đây là vật Nhà nước cấm lưu hành, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

 [10] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phíhình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lývàsử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

 [11] Đối với đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố L về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo vàcác vấn đề khác khi giải quyết vụ án là có căn cứ, phùhợp với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

 [12] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vìcác lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 01 (một) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tùtính từ ngày bắt tạm giữ 05/12/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung làphạt tiền đối với bị cáo

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong 01 phong bìđã niêm phong.

 (Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L, tỉnh Lạng Sơn được môtả chi tiết theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01 tháng 3 năm 2019).

4. Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phíhình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhànước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo cóquyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

205
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 51/2019/HS-ST ngày 10/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:51/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Lạng Sơn - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 10/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về